Categories
Main

Quan niệm, đặc điểm và vai trò của nền nông nghiệp công nghệ cao

Nhanlamluanvan.com xin chia sẻ đến bạn khái niệm, đặc điểm, vai trò và các tiêu chí đánh giá nền nông nghiệp công nghệ cao.

Quan niệm, đặc điểm và vai trò của nền nông nghiệp công nghệ cao

>>> Xem thêm: Một số vấn đề lý luận về giải quyết việc làm ở nông thôn

1. Quan niệm về nền nông nghiệp công nghệ cao

1.1. Ở Tây Âu

Các quốc gia Tây Âu cho rằng: NNCNC là nền NN tiên tiến trong nền KTXH hiện đại hóa, cơ giới hóa cao, trên cơ sở vận dụng những thành tựu CNSH, sinh thái và môi trường; hướng nhu cầu của xã hội và sự phát triển NN theo hướng bền vững, an toàn như NN xanh, NN hữu cơ, NN sinh thái học,…; đảm bảo tạo ra đủ số lượng và chất lượng cao đáp ứng nhu cầu tiêu dùng ngày càng cao của xã hội và nền SX đó không làm thay đổi môi trường sinh thái tự nhiên [5].

Quan niệm này, NNCNC không loại trừ việc sử dụng phân hóa học, thuốc bảo vệ thực vật nhưng sử dụng chúng một cách hợp lý hơn nhằm bảo vệ môi trường sinh thái; đồng thời ứng dụng thành tựu KHCN vào trong SX như CNSH, tự động hóa, CNTT, … nhằm nâng cao năng suất, chất lượng và sản lượng cây trồng vật nuôi, và tạo ra một nền NN theo hướng phát triển bền vững.

1.2. Ở Trung Quốc

Các nhà KH Trung Quốc cho rằng: Việc ứng dụng CN mới như CNSH, CNTT, công nghệ vũ trụ, tự động hóa, vật liệu mới, năng lượng mới, laser,… vào SXNN làm ảnh hưởng đến tiến bộ KHCN, kinh tế NN và có thể hình thành công nghệ cao, công nghệ mới của ngành SXNN, đều có thể gọi là NNCNC [5].

Theo quan niệm này, khái niệm NNCNC với nội dung bao hàm CN hóa và hiện đại hóa nền SXNN nhưng chú trọng hiệu quả kinh tế thiên về số lượng hơn; theo họ NNCNC khi đáp ứng yêu cầu xã hội với quy trình SX giảm được 30% chi phí, đồng thời phải tăng được ít nhất là 30% sản lượng và giá trị nông sản.

1.3. Ở Ấn Độ

Tại Ấn Độ, thuật ngữ “NNCNC” ra đời vào năm 1999 với nội dung: Là tất cả kỹ thuật công nghệ hiện đại, ít phụ thuộc vào môi trường được đưa vào SXNN, tập trung vốn cao và có khả năng làm gia tăng năng suất và chất lượng nông sản. Các kỹ thuật công nghệ hiện đại này có thể là công nghệ biến đổi gen, vi nhân giống, SX giống lai, công nghệ tưới và bón phân nhỏ giọt, quản lý dịch hại tổng hợp, canh tác hữu cơ, cây trồng không cần đất, trồng cây trong nhà có mái che, kỹ thuật chẩn đoán nhanh bệnh và vi khuẩn, công nghệ cao trong thu hoạch và bảo quản [5].

Như vậy, quan niệm NNCNC ở Ấn Độ thiên về năng suất và hiệu quả kinh tế bằng cách áp dụng nhiều thành tựu KHCN hiện đại trong SX nhưng không quan tâm đến vấn đề bảo vệ môi trường và phát triển NN bền vững.

1.4. Ở Việt Nam

Theo Huỳnh Ngọc Điền: 

NNCNC là tổng hợp những công nghệ tiên tiến nhất trên thế giới, bao gồm những công nghệ cốt lõi, trình độ cao và tiến bộ, cũng như những ngành CN mới và kỹ thuật phục vụ NN. Công nghệ cao ứng dụng trong NN dựa trên bốn ngành chính là KH về cuộc sống, điện tử, vật liệu và tin học.

Theo quan niệm này, NNCNC chủ yếu nhấn mạnh khía cạnh áp dụng công nghệ cao vào SXNN nhằm tạo ra năng suất và chất lượng SP, chưa đề cập khía cạnh sinh thái và xã hội.

Theo Nguyễn Tấn Hinh: 

NNCNC là NN có hàm lượng cao về KH và phát triển công nghệ, được tích hợp từ các thành tựu KHCN hiện đại như CNSH, CNTT, tự động hóa, vật liệu mới,… Và còn thể hiện ở việc quản lý SX và chất lượng nguồn lao động trong NN.

Ngoài việc áp dụng các thành tựu KHCN để nâng cao năng suất, chất lượng nông sản và hiệu quả kinh tế, quan niệm này còn chú ý đến vấn đề xã hội là quản lý SX và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. 

Theo Cao Kỳ Sơn: 

NNCNC là nền NN áp dụng công nghệ hiện đại; trong đó tạo mọi điều kiện thuận lợi để cây trồng phát triển tốt, tiến tới năng suất tiềm năng, đảm bảo chất lượng SP; thêm vào đó là bảo quản nông sản tốt và tổ chức quản lý SX hợp lý để đạt hiệu quả kinh tế cao.

Quan niệm này đề cập đến vấn đề hiệu quả KT – XH nhưng đối tượng áp dụng là cây trồng, chưa đề cập đến đối tượng vật nuôi và cũng chưa quan tâm đến yếu tố môi trường sinh thái.

Như vậy, mặc dù có nhiều quan niệm về NNCNC nhưng nhìn chung: NNCNC là một nền NN áp dụng công nghệ cao trong SX như CNSH, CNTT, vật liệu mới, tự động hóa,… trong các khâu của quá trình SX kết hợp với kỹ năng quản lý và tiếp cận thị trường để tạo ra SP có năng suất cao, chất lượng tốt, đáp ứng yêu cầu thị trường. Độ cao ý thức của nền NN này chính là tầm cao về trình độ ứng dụng KHCN hiện đại vào SX và hiệu quả kinh tế của nó so với tầm cao phát triển của lịch sử ngành NN thế giới. Đó chính là sự nổ lực tuyệt đối, chạy đua với thời gian về KHCN và ứng dụng chúng vào SXNN nhằm mang hiệu quả như mong muốn.

2. Đặc điểm

– NNCNC vẫn là hoạt động NN nên đối tượng SX chính vẫn là cây trồng và vật nuôi nhưng bản chất của chúng có thể thay đổi dưới tác dụng của KHCN. Vì thế, NNCNC tạo ra những giống cây con mới cho năng suất cao, chất lượng tốt và thời gian sinh trưởng ngắn hơn. 

– Đất trồng dần dần được thay thế bằng các giá thể hay dung dịch chất dinh dưỡng nhưng đất trồng ngày càng có giá trị cao hơn do diện tích ngày càng bị thu hẹp mà các hoạt động của NNCNC đều tiến hành trên nền của đất. 

– NNCNC là nền NN được tích hợp bởi nhiều công nghệ với trình độ chất xám cao. Hoạt động NN không chỉ đầu tư vào kiến thức nông học mà còn phải NC và ứng dụng các ngành KHCN khác vào trong SX của mình. Thêm vào đó, mỗi ngành KH lại liên quan đến nhiều ngành KH khác nhau nhưng chúng đều có mối quan hệ tác động lẫn nhau và được ứng dụng trong SXNN ngày càng sâu rộng.

– Việc ứng dụng công nghệ cao trong NN đã tạo ra phương thức SXNN theo hướng SXCN tập trung, hàng hóa được tạo ra với khối lượng lớn. Các xí nghiệp NN được xây dựng theo kiểu mới, có sự đồng nhất về công nghệ, kỹ thuật và tính chuyên môn sâu

– Quy trình SX khép kín từ khâu NC, ứng dụng SX đến tiêu thụ nông sản. Thị trường tiêu thụ nông sản ứng dụng công nghệ cao mang tính hàng hóa lớn và tập trung; thị trường tập trung theo kiểu “bao thầu trọn gói” từ thị trường đầu vào cho đến thị trường đầu ra và thường do một công ty hay doanh nghiệp điều hành. 

– Việc ứng dụng kỹ thuật máy tính vào NN ngoài những lĩnh vực truyền thông, phân tích dữ liệu quản lý; còn giúp con người xử lý những dữ liệu sinh học và tạo ra những cây trồng hay vật nuôi ảo để mô phỏng sự phát triển của chúng.

3. Vai trò 

– Nền NNCNC không loại trừ vai trò cung cấp lương thực, thực phẩm cho con người, đảm bảo sự tồn tại và phát triển KT-XH của đất nước; cung cấp nguyên liệu cho ngành CN.

– Phát triển NNCNC còn có vai trò thu hút các nguồn lực của các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước để phát triển NN nói riêng và KT-XH nói chung. 

– NNCNC có vai trò trong việc tăng năng suất, chất lượng và giảm giá thành SP.

– NNCNC góp phần nâng cao trình độ lao động NN và chuyển dịch cơ cấu lao động; thúc đẩy nền kinh tế phát triển theo phương thức SXCN và thúc đẩy sự phát triển của các ngành khác như KH, CN, dịch vụ. 

– NNCNC có tác dụng trong việc sử dụng tiết kiệm đất và làm tăng thêm vai trò của đất.

– NNCNC còn có tác dụng thúc đẩy nhanh quá trình CN hóa và hiện đại hóa nền kinh tế đất nước.

4. Tiêu chí đánh giá nền nông nghiệp công nghệ cao

Căn cứ vào các tiêu chí đánh giá ứng dụng công nghệ cao trong NN của Ban Quản Lý khu NNCNC ở Thành phố Hồ Chí Minh, Luật Công Nghệ Cao Việt Nam và các tiêu chuẩn về vệ sinh an toàn thực phẩm có thể xây dựng các tiêu chí đánh giá nền NNCNC như sau:

4.1. Nhóm tiêu chí về khoa học và công nghệ 

KHCN được ứng dụng vào trong NN phải đảm bảo các yêu cầu sau: 

KHCN là có trình độ công nghệ tiên tiến tạo ra SP có năng suất tăng ít nhất 30% và chất lượng vượt trội so với công nghệ đang sử dụng.

Công nghệ phải liên tục NC đổi mới phù hợp với sự phát triển của KHCN, có thể ứng dụng và mở rộng trong những điều kiện sinh thái NN nhất định.

Công nghệ phải là tiên tiến tại thời điểm đầu tư. 

Công nghệ phải mang lại hiệu quả kinh tế cao, SP NNCNC phải đáp ứng được các yêu cầu về chất lượng của quốc gia và quốc tế như VietGAP, AseanGAP, EuropGAP, GlobalGAP,… 

Các KHCN ứng dụng trong NN tập trung vào các nhiệm vụ chủ yếu sau: 

Chọn tạo, nhân giống cây trồng vật nuôi cho năng suất, chất lượng cao để cho ngành trồng trọt và chăn nuôi đạt hiệu quả cao; 

Phòng, trừ dịch bệnh; 

Tạo ra các loại vật tư, máy móc, thiết bị sử dụng trong NN; 

Bảo quản, chế biến nông sản; 

Phát triển doanh nghiệp NNCNC;

– Phát triển dịch vụ công nghệ cao phục vụ NN. 

4.2. Nhóm các tiêu chí về kinh tế, xã hội và môi trường

Về kinh tế 

Nông sản của nền NNCNC phải có hiệu quả kinh tế cao hơn ít nhất 30% so với SP của nền NN truyền thống. Nếu là doanh nghiệp NNCNC phải tạo ra SP tốt, năng suất, hiệu quả kinh tế phải tăng ít nhất gấp 2 lần. Nếu là vùng NNCNC có năng suất và hiệu quả kinh tế tăng ít nhất 30%. 

Về xã hội 

Nông sản được SX ra từ nền NNCNC phải đáp ứng được yêu cầu và thị hiếu của người tiêu dùng về số lượng và chất lượng; việc ứng dụng công nghệ cao vào SXNN phải thay đổi được các tập quán vốn có như tập quán canh tác SX, tập quán mua bán hàng hóa nông sản, tập quán tiêu dùng;… hướng đến một nền SXNN hiện đại, theo phương thức SXCN tập trung; đảm bảo thu nhập và ổn định chất lượng cuộc sống người dân. 

NNCNC còn quan tâm đến công tác quản lý tổ chức, đây là một khâu hết sức quan trọng trong quá trình SX, đồng thời cũng là giải pháp chủ yếu để phát triển NN theo hướng ứng dụng công nghệ cao. Để đảm bảo về mặt tổ chức quản lý, Nhà nước phải ban hành các chính sách liên quan đến việc ứng dụng công nghệ cao trong NN như Luật CN cao, tiêu chuẩn chất lượng SP, quy định lĩnh vực hoạt động,… các quy định này làm cho hoạt động ứng dụng công nghệ cao đi vào “khuôn mẫu” hơn. Mặt khác, tổ chức quản lý còn tạo ra sự liên kết giữa các đối tượng tham gia vào SX; là điều kiện để phát huy hết tiềm năng vốn có của lực lượng lao động trong NN. 

Về mặt môi trường 

Nền NNCNC được đánh giá là xu hướng phát triển NN bền vững nên phải đảm bảo hạn chế thải ra các chất gây ô nhiễm môi trường, không vượt quá giới hạn cho phép; không làm tổn hại đến môi trường sinh thái nơi SX và các hệ sinh thái xung quanh. Ứng dụng công nghệ môi trường, công nghệ vi sinh, emzyme,… để tạo ra các loại phân bón, thuốc bảo vệ thực vật sinh học, xử lý các chất thải NN và sử dụng các chất không gây ô nhiễm môi trường.

4.3. Nhóm tiêu chí về sản phẩm nông nghiệp công nghệ cao

SP của nền NNCNC trước hết phải đáp ứng các yêu cầu SP công nghệ cao: Thứ nhất là có tỷ trọng giá trị gia tăng cao trong cơ cấu tổng giá trị SP. Thứ hai là có tính cạnh tranh cao và hiệu quả KT – XH lớn. Thứ ba là có khả năng xuất khẩu hoặc thay thế SP nhập khẩu. 

Thứ tư là góp phần nâng cao năng lực KHCN quốc gia. 

Ngoài ra, nông sản phải cơ bản đảm bảo các điều kiện sau đây: 

SP phải hấp dẫn về hình thức: tươi sạch, không lẫn tạp chất, bụi bẩn; phải có bao bì hợp vệ sinh; có nguồn gốc rõ ràng.

SP được thu hoạch đúng thời điểm, khi SP có chất lượng cao nhất; không có các triệu chứng sâu bệnh hay nhiễm các vi sinh vật gây bệnh.

SP phải đảm bảo an toàn về chất lượng, không chứa dư lượng chất hóa học vượt giới hạn cho phép.

Môi trường SX, thu hoạch, chế biến,… đảm bảo đúng quy định. 

Người lao động tham gia vào quá trình SX tạo ra SP cũng thực hiện đúng quy trình về vệ sinh an toàn thực phẩm và an toàn lao động trong NN.