Categories
Main

Pháp luật về sử dụng các công cụ kinh tế trong bảo vệ môi trường

Trong bài viết này, nhanlamluanvan.com xin chia sẻ đến bạn pháp luật về sử dụng các công cụ kinh tế trong bảo vệ môi trường.

Pháp luật về sử dụng các công cụ kinh tế trong bảo vệ môi trường

>>> Xem thêm: Luận văn về giải quyết tranh chấp về chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn

1. Khái niệm pháp luật về sử dụng các công cụ kinh tế trong bảo vệ môi trường

Pháp luật là hệ thống các quy tắc xử sự mang tính bắt buộc chung do Nhà nước ban hành hoặc thừa nhận được Nhà nước bảo đảm thực hiện nhằm mục đích điều chỉnh các quan hệ xã hội. Pháp luật là công cụ để thực hiện quyền lực nhà nước và là cơ sở pháp lý cho đời sống xã hội.

Một trong những chức năng của pháp luật là chức năng điều chỉnh. Sự điều chỉnh của pháp luật lên các quan hệ xã hội được thực hiện theo hai hướng: một mặt pháp luật ghi nhận các quan hệ xã hội chủ yếu trong xã hội; mặt khác pháp luật bảo đảm cho sự phát triển của xã hội. Như vậy, pháp luật đã thiết lập “trật tự” đối với các quan hệ xã hội, tạo điều kiện cho các quan hệ xã hội phát sinh theo chiều hướng nhất định, phù hợp với quy luật vận động khách quan của các quan hệ xã hội.

Quan hệ xã hội là mối quan hệ giữa con người với con người và mối quan hệ giữa con người với thiên nhiên. Quá trình xây dựng và thực hiện pháp luật về sử dụng các CCKT trong BVMT có rất nhiều quan hệ xã hội. Quan hệ giữa con người với con người trong điều chỉnh pháp luật về sử dụng các CCKT trong BVMT có thể là:

– Quan hệ giữa các cơ quan nhà nước với nhau trong quá trình xây dựng, thực hiện pháp luật về sử dụng các CCKT trong BVMT;

– Quan hệ giữa cơ quan quản lý nhà nước với các chủ thể sử dụng các công cụ kinh tế trong BVMT;

– Quan hệ giữa các chủ thể trong quá trình sử dụng các CCKT trong BVMT.  

Các quan hệ trên đòi hỏi phải điều chỉnh bằng pháp luật. Cần phải có nguyên tắc xử sự bắt buộc, được làm gì, không được làm gì và làm như thế nào để hướng chúng đi theo một trật tự nhất định, không thể là mối quan hệ tự phát. Có như vậy, môi trường mới được bảo vệ.

Với những đặc trưng cơ bản của công cụ kinh tế đã phân tích ở phần 2.1.2, các công cụ kinh tế hoàn toàn có tính tương phản với công cụ điều hành và kiểm soát. Khi chúng ta sử dụng công cụ kinh tế trong bảo vệ môi trường, trong nhiều trường hợp, chúng còn tạo ra khả năng ý thức tự nguyện chấp hành đối với những hành vi ứng xử với môi trường. Bên cạnh đó, với tư cách là một trong số các công cụ của quản lý môi trường, công cụ kinh tế có thể được sử dụng thay thế hoặc bổ sung cho các công cụ khác của quản lý môi trường.

Các quan hệ cơ bản phát sinh trong quá trình sử dụng các CCKT trong BVMT có nhu cầu điều chỉnh bằng pháp luật vì bên cạnh chức năng điều chỉnh, pháp luật còn có chức năng bảo vệ. Pháp luật là công cụ bảo vệ các quan hệ xã hội mà nó điều chỉnh. Khi các hành vi vi phạm pháp luật môi trường xảy ra, xâm phạm đến các quan hệ xã hội được pháp luật điều chỉnh thì các cơ quan nhà nước có thẩm quyền sẽ áp dụng các biện pháp cưỡng chế đối với các chủ thể có hành vi vi phạm.

Trong các biện pháp tác động tới các chủ thể tham gia vào hoạt động BVMT thì biện pháp pháp lý là sự thể chế hóa các yêu cầu BVMT bằng các quy định của pháp luật. Thông qua đó, quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm cụ thể của các tổ chức, cá nhân được thể hiện trong các quy định mang tính bắt buộc và đảm bảo thực hiện bằng sức mạnh cưỡng chế. Như vậy, một trong những đảm bảo quan trọng của biện pháp pháp lý chính là việc ban hành và tổ chức thực hiện các quy định của pháp luật về BVMT nói chung và pháp luật về sử dụng các CCKT trong BVMT nói riêng.

Pháp luật về sử dụng các CCKT trong BVMT tác động vào ý thức của con người, làm cho con người xử sự phù hợp với cách xử sự được quy định trong các quy phạm của pháp luật. Từ sự nhận thức này sẽ hướng con người đến những hành vi, cách xử sự phù hợp với lợi ích của xã hội, Nhà nước và của bản thân trong quá trình sử dụng, hưởng lợi từ môi trường. 

Như vậy, pháp luật về sử dụng các CCKT trong BVMT được quan niệm là một bộ phận của pháp luật môi trường, bao gồm hệ thống các quy phạm pháp luật, các nguyên tắc pháp lý về các chủ thể sử dụng các CCKT; quyền và nghĩa vụ của các chủ thể; trình tự, thủ tục và hình thức xử lý các vi phạm pháp luật BVMT.

2. Nội hàm của pháp luật về sử dụng các công cụ kinh tế trong bảo vệ môi trường

Nói đến pháp luật về sử dụng các CCKT trong BVMT là đề cập toàn bộ các văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh hoạt động BVMT khi tiến hành các hoạt động sản xuất, kinh doanh và những hoạt động khác có liên quan.

Hiện nay có nhiều quan niệm khác nhau về nội hàm pháp luật về sử dụng các CCKT trong BVMT. Có quan niệm cho rằng pháp luật về sử dụng các CCKT trong BVMT là toàn bộ các quy định của pháp luật do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành quy định về công tác BVMT trong các lĩnh vực khác nhau. Cơ sở của quan niệm này xuất phát từ đặc tính của hoạt động sản xuất, kinh doanh của các DN có tính liên ngành, liên vùng và xã hội hóa cao. Do vậy, tất cả các quy định về BVMT trong những ngành, lĩnh vực khác đều có tác động nhất định đến sử dụng các CCKT trong BVMT. Quan niệm này có phần rộng vì xét cho cùng môi trường có quan hệ chặt chẽ với sự phát triển của hoạt động sản xuất, kinh doanh nhưng mỗi ngành đều có những đặc thù riêng khi xác lập và thực hiện. Do vậy, nếu cho rằng pháp luật về sử dụng các CCKT trong BVMT bao gồm toàn bộ những quy định về BVMT thì phạm vi quá lớn.

Có quan niệm cho rằng pháp luật về sử dụng các CCKT trong BVMT gồm những quy phạm pháp luật do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành quy định cụ thể quyền và nghĩa vụ của các cơ quan quản lý nhà nước trong việc sử dụng các CCKT trong BVMT. Quan niệm này là chưa đầy đủ vì chủ thể sử dụng các CCKT trong BVMT bao gồm các tổ chức, cá nhân, cơ quan quản lý nhà nước…Do đó, chủ thể sử dụng các CCKT trong BVMT chỉ do cơ quan quản lý nhà nước thực hiện thì chưa chính xác.

Theo nghiên cứu sinh trong lĩnh vực môi trường, nội hàm pháp luật về sử dụng các CCKT trong BVMT bao gồm:

Thứ nhất, các quy định của pháp luật về sử dụng các CCKT trong BVMT có liên quan đến các hoạt động của các DN, cơ sở sản xuất, kinh doanh có tác động đến môi trường. Bộ phận này là tập hợp các quy phạm pháp luật về BVMT nói chung và pháp luật về sử dụng các CCKT trong BVMT nói riêng có nội dung liên quan trực tiếp đến hành vi của các chủ thể trong quá trình tiến hành các hoạt động sản xuất, kinh doanh gây ô nhiễm môi trường, cũng như quy định về việc thực hiện nghĩa vụ BVMT của các chủ thể tham gia quan hệ sản xuất, kinh doanh có tác động đến môi trường. Nhóm những quan hệ này bao gồm:

Một là, quy định của pháp luật về chính sách tài trợ trong quản lý BVMT như: pháp luật về ngân sách nhà nước trong BVMT và pháp luật về Quỹ BVMT

Hai là, quy định của pháp luật về nhóm các CCKT kích thích lợi ích kinh tế gồm: pháp luật về thuế BVMT; pháp luật về phí BVMT;

Ba là, quy định của pháp luật về nhóm các CCKT nâng cao trách nhiệm xã hội trong hoạt động BVMT bao gồm: pháp luật về ký quỹ để cải tạo, phục hồi môi trường trong hoạt động khai thác khoáng sản; pháp luật về đặt cọc – hoàn trả; pháp luật về nhãn sinh thái;

Thứ hai, pháp luật về sử dụng các CCKT trong BVMT bao gồm các thiết chế thực thi pháp luật BVMT nhằm đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong giai đoạn hiện nay. Đây là toàn bộ các quy định của pháp luật về chế tài xử phạt các hành vi vi phạm pháp luật trong BVMT.

3. Các nguyên tắc cơ bản của việc áp dụng pháp luật về sử dụng các công cụ kinh tế trong bảo vệ môi trường

Pháp luật về sử dụng các CCKT trong BVMT được xây dựng và tổ chức thực hiện dựa trên các nguyên tắc cơ bản đã được quốc tế thừa nhận, bao gồm:

3.1. Nguyên tắc người gây ô nhiễm phải trả tiền (Polluter Pays Principle – PPP)

Một trong những nguyên tắc quan trọng được áp dụng trong lĩnh vực quản lý môi trường ngày càng được phổ biến rộng rãi trên toàn thế giới đó là nguyên tắc PPP do Tổ chức hợp tác kinh tế và phát triển (Organization for Economic Cooperation and Development – OECD) soạn thảo năm 1972. Nguyên tắc này ra đời dựa trên cơ sở xem môi trường là một loại hàng hoá. Nguyên lý căn bản của PPP là việc yêu cầu giá cả của một hàng hoá hay dịch vụ phải được thể hiện đầy đủ trong tổng chi phí sản xuất ra, bao gồm các chi phí của tất cả các loại tài nguyên thiên nhiên được sử dụng cũng như giá trị tiêu hao của các thành phần môi trường. Nguyên tắc PPP yêu cầu những ai tác động vào môi trường phải trả tiền cho hành vi khai thác các thành phần môi trường, đó chính là “cái giá” mà một chủ thể phải bỏ ra để mua loại hàng hoá môi trường vào phục vụ nhu cầu của mình.

Đây cũng chính là cơ sở chủ yếu tạo ra những CCKT dùng để quản lý môi trường, nhất là trong việc kiểm soát ô nhiễm. Tính linh hoạt và hiệu quả kinh tế là hai yếu tố quan trọng làm cho các CCKT ngày càng được sử dụng rộng rãi trên thế giới trong vấn đề BVMT, nhất là trong quản lý chất lượng môi trường và kiểm soát ô nhiễm. Theo Báo cáo điều tra của OECD năm 1994, trong số 14 nước được điều tra đã có đến 150 loại CCKT được đề xuất và áp dụng. Có một hệ thống các công cụ khuyến khích kinh tế nhằm định hướng hành vi tích cực vào môi trường đang được áp dụng rộng rãi tại các quốc gia, nhất là tại các nước OECD, gồm các công cụ chủ yếu sau đây:

– Tạo lập thị trường và hỗ trợ thị trường được thực hiện trên cơ sở luật lệ hay các quy định được thay đổi như: việc tạo lập thị trường mua bán quyền phát thải trên cơ sở giấy phép phát thải, đấu giá hạn ngạch thải…

– Thay đổi trực tiếp các mức giá cả hoặc chi phí xảy ra khi có sự thay đổi về lệ phí, phí theo sản phẩm, theo việc phát thải… hay hệ thống ký thác hoàn trả.

– Thay đổi gián tiếp các mức giá cả hoặc chi phí xảy ra khi có sự trợ cấp trực tiếp, tín dụng ưu đãi hay khuyến khích tài chính nhằm áp dụng công nghệ sạch cho môi trường, khuyến khích các hành vi kinh tế để thực thi các chính sách về môi trường.

Việc áp dụng các CCKT này dựa trên cơ sở các quy luật thị trường và cơ chế về giá mà đối tượng áp dụng của các công cụ này chính là môi trường. Nói cách khác, các CCKT là những phương thức trao đổi, mua bán loại hàng hóa môi trường, đó chính là những hình thái thể hiện của việc thương mại hóa môi trường. Do các CCKT được áp dụng ngày càng phổ biến trên thế giới trong quản lý môi trường nên tạo thành một “xu hướng” – đó chính là xu hướng thương mại hoá môi trường.           

Trong thời gian gần đây, nguyên tắc “Người gây ô nhiễm phải trả tiền” còn được củng cố bằng nhiều nguyên tắc cơ bản khác như: “nguyên tắc phòng ngừa”, “nguyên tắc cấp dưới”,“nguyên tắc hiệu quả kinh tế, tiết kiệm chi phí” và “nguyên tắc hiệu quả về luật pháp” góp phần tạo ra thế chủ đạo cho việc hoạch định các chính sách môi trường.

3.2. Nguyên tắc người hưởng thụ phải trả tiền (Beneficiary Pay Principle –BPP)

Nguyên tắc BPP chủ trương tạo lập một cơ chế nhằm đạt được các mục tiêu về môi trường. Người được hưởng một môi trường đã được cải thiện cũng phải trả một khoản chi phí. Tất cả những người được hưởng lợi do có được môi trường trong lành không bị ô nhiễm thì phải nộp phí. Nguyên tắc BPP cho rằng việc phòng ngừa ô nhiễm và cải thiện môi trường cần được hỗ trợ từ phía những người muốn được thay đổi hoặc những người không phải trả giá cho các chất thải gây ô nhiễm môi trường.

Khi thực hiện nguyên tắc BPP chúng ta sẽ tạo ra một khoản thu đáng kể. Mức thu phí theo đầu người càng cao và càng có nhiều người nộp phí thì số tiền thu được càng nhiều. Nếu mức phí có thể được thu đủ để dành cho các mục tiêu môi trường thì lúc đó chính sách này có thể được coi là chính sách có hiệu quả về môi trường. Với mục đích nhằm BVMT, nguyên tắc BPP nhận được ủng hộ rộng rãi của công chúng.

Xét về mặt hiệu quả kinh tế, nguyên tắc BPP là nguyên tắc có tính phù hợp cao vì hiệu quả kinh tế chỉ có thể đạt được nếu các nguồn thu được sử dụng ở mức tối ưu. Do vậy, nếu việc định mức phí, lệ phí môi trường đưa ra ở mức tối ưu và khoản phí thu được chủ yếu phục vụ cho các biện pháp cụ thể có liên quan đến BVMT thì nó có thể đạt được hiệu quả kinh tế. Tuy nhiên, nguyên tắc BPP lại chưa đáp ứng được tính công bằng kinh tế vì các công ty có thể sử dụng nguồn lợi môi trường để sản xuất ra hàng hoá và dịch vụ nhưng đã có người khác phải chịu chi phí đó, nghĩa là họ không trả đủ chi phí cho hàng hóa và dịch vụ mà họ tiêu thụ trên thị trường.

3.3. Nguyên tắc kích thích lợi ích kinh tế

Nguyên tắc kích thích lợi ích kinh tế xuất phát từ một thực tế không thể phủ nhận đó là: lợi ích là động lực thúc đẩy con người tiến hành các hoạt động kinh tế – xã hội, đặc biệt là lợi ích kinh tế. Bởi lẽ, mỗi một con người hay xã hội muốn tồn tại và phát triển thì nhu cầu của họ phải được đáp ứng. Mà lợi ích và nhu cầu có mối quan hệ mật thiết với nhau. Lợi ích bắt nguồn từ nhu cầu và là cái để đáp ứng nhu cầu. Trong hệ thống lợi ích của con người nói chung bao gồm lợi ích kinh tế, lợi ích chính trị, tư tưởng, văn hoá – xã hội thì lợi ích kinh tế giữ vai trò quyết định nhất vì nó gắn liền với nhu cầu vật chất, nhằm đáp ứng nhu cầu vật chất – là nhu cầu cơ bản nhất cho sự tồn tại và phát triển của con người, của xã hội và khi đời sống vật chất của con người được đảm bảo thì đời sống tinh thần cũng mới được nâng cao. Chính vì thế, lợi ích kinh tế giữ vai trò quan trọng nhất, quyết định nhất, là cơ sở, nền tảng cho sự tồn tại và phát triển của mỗi con người nói riêng, cũng như xã hội nói chung. Vì thế có thể khẳng định rằng mọi nguyên nhân suy cho cùng đều là động lực kinh tế và chính lợi ích kinh tế giữ vai trò động lực cho các hoạt động kinh tế – xã hội.

Nội dung của nguyên tắc kích thích lợi ích kinh tế bằng việc áp dụng các CCKT trong BVMT là dùng lợi ích kinh tế – lợi ích vật chất để kích thích con người tiến hành các hoạt động có lợi cho môi trường. Quản lý môi trường trước hết là quản lý các hoạt động phát triển do con người (cá nhân hay cộng đồng) tiến hành tổ chức và phát huy tính tích cực hoạt động của mình vì mục đích phát triển bền vững. Con người dù cá nhân, tập thể hay cộng đồng đều có những lợi ích, nguyện vọng và những nhu cầu nhất định. Do đó, một trong những nhiệm vụ quan trọng của quản lý môi trường là phải chú trọng đến lợi ích con người để khuyến khích họ có hành vi và thái độ ứng xử phù hợp với mục tiêu BVMT của họ. Lợi ích không những là sự vận động tự giác, chủ quan của con người nhằm thoả mãn một nhu cầu nào đó của mình mà còn là động lực nhằm phát huy tính tích cực, chủ động của con người và là phương tiện hữu hiệu quản lý và BVMT nên phải sử dụng nó để khuyến khích các hoạt động có lợi cho môi trường.

3.4. Nguyên tắc sử dụng nguồn tài chính tập trung

Theo quy định tại điều 110 Luật BVMT năm 2005 thì NSNN là một trong những nguồn tài chính để BVMT. Theo quy định tại điều 31 Luật NSNN năm 2002 thì chi cho môi trường là một trong những nhiệm vụ chi thường xuyên của NSNN. Tương tự, tại khoản 2 điều 110 Luật BVMT năm 2005 quy định: “NSNN có mục chi thường xuyên cho sự nghiệp môi trường phù hợp với yêu cầu BVMT của từng thời kỳ, hàng năm, bảo đảm tỷ lệ tăng chi ngân sách cho sự nghiệp môi trường cao hơn tăng chi NSNN”. Đó là hoạt động “nhằm sử dụng quỹ NSNN, là quá trình phân phối nguồn tiền tệ nằm trong quỹ NSNN để chi dùng vào những mục đích khác nhau” [115, tr.79], cụ thể ở đây là nhằm mục đích quản lý và BVMT. Vì thế, khi sử dụng NSNN trong quản lý và BVMT phải đảm bảo các khoản chi phải được hạch toán kế toán, quyết toán đầy đủ, kịp thời, đúng chế độ và tuân theo các nguyên tắc cơ bản của hoạt động sử dụng NSNN. Cùng với NSNN, các Quỹ BVMT cũng là một trong các nguồn tài chính để BVMT. Các Quỹ BVMT là các tổ chức tài chính, vì thế trong quá trình sử dụng nguồn lực tài chính của mình để thực hiện các hoạt động có lợi cho môi trường thì ngoài việc tuân thủ các điều lệ hoạt động của Quỹ, còn phải tuân thủ các chế độ kế toán, hoá đơn, chứng từ theo pháp luật kế toán hiện hành.

4. Tiêu chí cơ bản xác định mức độ phù hợp của pháp luật về sử dụng các công cụ kinh tế trong bảo vệ môi trường

Để đánh giá mức độ phù hợp của pháp luật về sử dụng các CCKT trong BVMT cần phải dựa vào những tiêu chí nhất định được xác định trên cơ sở lý luận, từ đó liên hệ với điều kiện và hoàn cảnh thực tiễn xem xét những yếu tố khách quan, chủ quan, phân tích những ưu điểm, nhược điểm của những quy định pháp luật này. Có nhiều tiêu chí khác nhau để xác định mức độ phù hợp của pháp luật về sử dụng các CCKT trong BVMT, trong đó có bốn tiêu chí cơ bản, cụ thể:

– Tính toàn diện của pháp luật về sử dụng các CCKT trong BVMT. Tính toàn diện được thể hiện ở chỗ: 

Thứ nhất, pháp luật về sử dụng các CCKT trong BVMT phải có đầy đủ các bộ phận cấu thành của nó. Đó là tập hợp các quy định của pháp luật về điều chỉnh hành vi của các chủ thể, quyền và nghĩa vụ, trình tự, thủ tục, chế tài xử phạt các hành vi vi phạm pháp luật trong BVMT.

Thứ hai, mỗi bộ phận cấu thành phải có những quy phạm pháp luật quy định về quyền và nghĩa vụ của các tổ chức, cá nhân trong việc sử dụng các CCKT trong BVMT…

– Tính đồng bộ của pháp luật về sử dụng các CCKT trong BVMT. Tính đồng bộ thể hiện sự thống nhất của pháp luật. Đó là sự đồng bộ giữa các bộ phận cấu thành pháp luật về sử dụng các CCKT trong BVMT. Theo đó, các quy định của pháp luật về sử dụng các CCKT trong BVMT và những lĩnh vực liên quan cần loại bỏ sự trùng lặp, chồng chéo hoặc mâu thuẫn. Ở mức độ cao hơn, trong mỗi bộ phận cấu thành này phải tạo ra được một nhóm hoặc một hệ thống quy phạm pháp luật cơ bản để tạo cơ sở củng cố tính thống nhất của cả bộ phận. Đồng thời, các quy phạm pháp luât cụ thể trong mỗi bộ phận cấu thành, cũng phải thống nhất, không mâu thuẫn, chồng chéo với nhau.

– Tính phù hợp của pháp luật về sử dụng các CCKT trong BVMT 

Tính phù hợp thể hiện ở sự tương quan giữa nội dung, yêu cầu và mục tiêu của pháp luật về sử dụng các CCKT trong BVMT với mức độ phát triển, trình độ hiểu biết của các DN. Tiêu chí này không cho phép pháp luật được xây dựng vượt ra ngoài khả năng đáp ứng của các quan hệ xã hội trong lĩnh vực này nhưng cũng không thể thấp hơn trình độ của các quan hệ xã hội đó. Tính phù hợp thể hiện ở nhiều mặt, nhiều lĩnh vực khác nhau. Khi đánh giá tiêu chí này, cần đặt pháp luật trong những mối quan hệ cụ thể như với trình độ phát triển kinh tế, ý thức chính trị, truyền thống xã hội…, từ đó rút ra những bất cập, thiếu sót của pháp luật để sửa đổi, bổ sung cho phù hợp.

– Pháp luật về sử dụng các CCKT trong BVMT phải được xây dựng ở trình độ kỹ thuật pháp lý cao

Kỹ thuật pháp lý cao là một vấn đề tương đối rộng, phức tạp. Mỗi một quốc gia, khu vực có quan niệm riêng về trình độ kỹ thuật pháp lý. Ở Việt Nam hiện nay vẫn còn nhiều ý kiến khác nhau về kỹ thuật pháp lý “cao” trong xây dựng và hoàn thiện pháp luật. Tuy nhiên, có một số điểm cơ bản nhận được sự đồng thuận chung của cá nhà làm luật về một trình độ pháp lý cao, đó là:

+ Khi xây dựng và hoàn thiện pháp luật, nhà làm luật phải xác định được những nguyên tắc tối ưu nhất, xuyên suốt toàn bộ quá trình này. Đây sẽ là những tư tưởng, ý chí chủ đạo định hướng cho toàn bộ các hoạt động xây dựng và hoàn thiện pháp luật.

+ Trình độ kỹ thuật pháp lý thể hiện ở việc xác định chính xác cơ cấu của pháp luật. Ví dụ: trong việc xây dựng và hoàn thiện pháp luật về sử dụng các CCKT trong BVMT, cơ quan có thẩm quyền phải xác định chính xác những bộ phận cấu thành của hệ thống pháp luật này, vai trò, nhiệm vụ của từng bộ phận.

+ Trình độ kỹ thuật pháp lý cao còn thể hiện ở chỗ ngôn ngữ pháp lý phải đảm bảo tính cô đọng, chính xác, logic và không đa nghĩa.

Ngoài những tiêu chí cơ bản nêu trên, pháp luật về sử dụng các CCKT trong BVMT được xây dựng và hoàn thiện trong xu thế hội nhập, tiếp cận với trình độ, mặt bằng chung của các quốc gia phát triển trên thế giới; bên cạnh đó, còn phải đáp ứng một số tiêu chí khác đang đóng vai trò quan trọng và rất cần thiết trong thời điểm hiện nay, đó là: tính minh bạch, tính công khai, tính dễ tiếp cận của pháp luật về sử dụng các CCKT trong BVMT.

5. Nguồn của pháp luật về sử dụng các công cụ kinh tế trong bảo vệ môi trường

Trong việc thực hiện các quy phạm pháp luật về BVMT nói chung cũng như nghiên cứu khoa học pháp lý về sử dụng các CCKT trong BVMT, vấn đề quan trọng là cần xác định được những văn bản pháp luật chứa đựng các quy phạm pháp luật đó, tức là xác định nguồn của pháp luật về sử dụng các CCKT trong BVMT. Dưới góc độ pháp lý, đây là những văn bản quy phạm pháp luật do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành hoặc phê chuẩn theo những thủ tục, trình tự và dưới những hình thức nhất định, có nội dung chứa đựng những quy phạm pháp luật về sử dụng các CCKT trong BVMT. Trên thực tế, khi nghiên cứu nguồn của bất kỳ ngành luật nào trong những thời điểm nhất định chúng ta cần xem xét những văn bản có hiệu lực thi hành ở thời điểm đó.

Nguồn của pháp luật về sử dụng các CCKT trong BVMT bao gồm hệ thống những văn bản pháp luật do nhiều cơ quan có thẩm quyền của Nhà nước Việt Nam ban hành. Cũng như nguồn của nhiều ngành luật, lĩnh vực khác, nguồn của pháp luật về sử dụng các CCKT trong BVMT rất đa dạng về hình thức. Nhiều quy phạm pháp luật được ban hành trong văn bản pháp luật chung và văn bản pháp luật riêng về lĩnh vực môi trường. Chính vì vậy, việc xác định nguồn của pháp luật về sử dụng các CCKT trong BVMT có ý nghĩa trong việc xác định hiệu lực của các quy phạm pháp luật.

Công cụ pháp lý được xem là công cụ hữu hiệu và mang lại kết quả nhanh, là một trong những công cụ không thể thiếu trong chiến lược quản lý và BVMT. Hơn thế nữa, hoạt động BVMT không chỉ dừng lại trong phạm vi một quốc gia mà còn ở quy mô quốc tế. Các văn bản luật quốc tế về môi trường được hình thành một cách chính thức từ thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX, giữa các quốc gia Châu Âu, Châu Mỹ, Châu Phi. Từ hội nghị quốc tế về “Môi trường con người” tổ chức năm 1972 tại Thụy Điển và sau Hội nghị thượng đỉnh Rio 92 ở Brazil đã có rất nhiều văn bản về luật quốc tế được soạn thảo và ký kết. Cho đến nay, đã có hàng ngàn văn bản luật quốc tế về môi trường, trong đó nhiều văn bản đã được Chính phủ Việt Nam tham gia ký kết như: Công ước Chicago về hàng không dân dụng quốc tế (1944); Thoả thuận về thiết lập Uỷ ban nghề cá Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương (1948); Hiệp ước về khoảng không ngoài vũ trụ (1967); Công ước về các vùng đất ngập nước có tầm quan trọng quốc tế, đặc biệt như là nơi cư trú của các loài chim nước – RAMSAR (1971 và 1988); Nghị định thư bổ sung Công ước về các vùng ngập nước có tầm quan trọng, đặc biệt như là nơi cư trú của các loài chim nước (Paris 1982); Công ước liên quan đến bảo vệ các di sản văn hoá và tự nhiên (1982); Công ước về cấm phát triển, sản xuất và tàng trữ vũ khí hoá học, vi trùng và việc tiêu huỷ chúng; Công ước về buôn bán quốc tế về các giống loài động thực vật có nguy cơ bị đe dọa (1973 và 1994); Công ước về ngăn ngừa ô nhiễm do tàu biển MARPOL (29/8/1991); Công ước của Liên hợp quốc về sự biến đổi môi trường (26/8/1980); Nghị định thư Chữ thập đỏ liên quan đến bảo vệ nạn nhân của các cuộc xung đột vũ trang; Công ước của Liên hợp quốc về Luật biển (25/7/1994); Cam kết quốc tế về phổ biến và sử dụng thuốc diệt côn trùng (FAO 1985); Công ước Viên về bảo vệ tầng ozone (1985 và 1994); Công ước về thông báo sớm sự cố hạt nhân (IAEA 1985 và 1987); Công ước về trợ giúp trong trường hợp sự cố hạt nhân hoặc cấp cứu phóng xạ (IAEA 1986 và 1987); Nghị định thư Montreal về các chất làm suy giảm tầng ô-zôn (1987 và 1984); Bản bổ sung London cho công ước London (1990); Bản bổ sung Copenhagen (1992); Thoả thuận về mạng lưới các trung tâm thuỷ sản ở Châu Á – Thái Bình Dương (1988 và 1989); Công ước Basel về kiểm soát việc vận chuyển qua biên giới chất thải độc hại và việc loại bỏ chúng (13/5/1995); Công ước khung của Liên hợp quốc về biến đổi khí hậu (1992 và 1994); Công ước về Đa dạng sinh học (1992 và 1994).

Trong phạm vi quốc gia, vấn đề môi trường đã được đề cập trong nhiều văn bản pháp luật, trong đó Luật BVMT năm 1993 là văn bản quan trọng nhất. Để cụ thể hóa, Chính phủ đã ban hành Nghị định 175/CP ngày 18/10/1994 hướng dẫn thi hành Luật BVMT. Năm 2005, Luật BVMT được thông qua ngày 29/11/2005 đã thay thế cho Luật BVMT năm 1993. Luật BVMT năm 2005 quy định những hành vi vi phạm pháp luật về BVMT, giữ gìn vệ sinh môi trường nơi công cộng bị xử lý bằng các biện pháp: phạt tiền, buộc lao động vệ sinh môi trường có thời hạn ở nơi công cộng, tạm giữ phương tiện có liên quan gây ra ô nhiễm môi trường (Điều 52). Ngày 31/12/2009, Chính phủ cũng đã ban hành Nghị định số 117/2009/NĐ-CP về xử lý vi phạm pháp luật trong lĩnh vực BVMT và ngày 14/11/2013, Chính Phủ ban hành Nghị định số 179/2013/NĐ-CP về xử lý vi phạm pháp luật trong lĩnh vực bảo vệ môi trường thay thế Nghị định 117/2009/NĐ – CP. Bộ luật Hình sự (BLHS) năm 1985 quy định về tội vi phạm các quy định về BVMT gây hậu quả nghiêm trọng và một số tội khác có liên quan như: tội vi phạm các quy định về bảo vệ đất đai (Điều 180), tội vi phạm các quy định về quản lý và bảo vệ rừng (Điều 181), tội vi phạm các quy định về chất cháy, chất nổ, chất phóng xạ (Điều 192), tội vi phạm các quy định về vệ sinh thực phẩm gây hậu quả nghiêm trọng (Điều 197)… và tiếp tục được quy định trong BLHS năm 1999 với một chương riêng (Chương XVII) quy định các tội phạm về môi trường; Luật sửa đổi bổ sung một số điều của BLHS năm 2009 bổ sung thêm một số điều cụ thể hơn trong lĩnh vực môi trường như: tội gây ô nhiễm môi trường (Điều 182); tội vi phạm quy định về quản lý chất thải nguy hại (Điều 182a); tội vi phạm quy định về phòng ngừa sự cố môi trường (Điều 182b); tội đưa chất thải vào lãnh thổ Việt Nam (Điều 185); tội làm lây lan dịch bệnh nguy hiểm cho người (Điều 186); tội làm lây lan dịch bệnh nguy hiểm cho động vật, thực vật (Điều 187); tội huỷ hoại nguồn lợi thuỷ sản (Điều 188); tội huỷ hoại rừng (Điều 189); tội vi phạm các quy định về bảo vệ động vật thuộc danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ (Điều 190); tội vi phạm các quy định về quản lý khu bảo tồn thiên nhiên (Điều 190); tội nhập khẩu, phát tán các loài ngoại lai xâm hại (Điều 191a) và hàng loạt các Thông tư, Quyết định của các ngành chức năng về thực hiện pháp luật BVMT đã được ban hành. Một số tiêu chuẩn môi trường chủ yếu được soạn thảo và thông qua. Nhiều khía cạnh BVMT cũng được đề cập trong các văn bản khác như Luật Khoáng sản, Luật Dầu khí, Bộ luật Hàng hải, Bộ luật Lao động, Luật Đất đai, Luật Bảo vệ và phát triển rừng, Luật Bảo vệ sức khoẻ của nhân dân, Pháp lệnh về đê điều, Pháp lệnh về việc bảo vệ nguồn lợi thuỷ sản, Pháp lệnh bảo vệ các công trình giao thông. Riêng đối với hệ thống văn bản pháp luật liên quan đến trách nhiệm tài chính của các chủ thể đối với môi trường thì được đề cập đến trong nhiều văn bản như Luật Thuế tiêu thụ đặc biệt (1998, 2005, 2008), Luật Thuế tài nguyên (2008), Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp (2005, 2008), Luật Thuế BVMT (2012) … Hiện nay, Việt Nam cũng đã xây dựng được một số văn bản quy phạm pháp luật quy định về thuế, phí BVMT để triển khai áp dụng phù hợp với đặc điểm kinh tế – xã hội của Việt Nam. Cụ thể:

Luật Thuế BVMT 

Phí môi trường: bao gồm

Phí BVMT đối với nước thải

Phí BVMT đối với nước thải chia thành 2 loại phí là: phí BVMT đối với nước thải sinh hoạt, phí BVMT đối với nước thải công nghiệp được quy định trong các văn bản sau:

– Nghị định 67/NĐ-CP về thu phí BVMT đối với nước thải được Thủ tướng Chính phủ ký ban hành từ giữa tháng 6 năm 2003 và có hiệu lực từ ngày 1/1/2004. 

– Nghị định số 04/2007/NĐ-CP ngày 08/11/2007 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều Nghị định số 67/2003/NĐ – CP ngày 13/6/2003 của Chính phủ về phí BVMT đối với nước thải.

– Nghị định số 26/2010/NĐ-CP ngày 22/03/2010 về việc sửa đổi, bổ sung một số điều Nghị định số 67/2003/NĐ-CP 

– Nghị định số 25/2012/NĐ – CP ngày 29/3/2013 về phí BVMT đối với nước thải.

–  Thông tư liên tịch 125/2003/TTLT-BTC-BTNMT hướng dẫn thực hiện Nghị định 67.

–  Thông tư liên tịch 106/2007/TTLT/BTC-BTNMT sửa đổi, bổ sung Thông tư liên tịch 125/2003/TTLT-BTC-BTNMT. 

–  Nghị định 04/2007/NĐ-CP ngày 8/1/2007 về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 67/2003/NĐ-CP. 

– Nghị định số 26/2010/NĐ-CP ngày 22/03/2010 về việc sửa đổi, bổ sung một số điều Nghị định số 67/2003/NĐ-CP

Phí BVMT đối với chất thải rắn:

Phí BVMT đối với chất thải rắn (CTR) được triển khai thực hiện bắt đầu từ năm 2007 và được quy định cụ thể trong các văn bản sau:

– Nghị định 174/2007/NĐ-CP của Chính phủ ngày 29/11/2007 về phí bảo vệ môi trường đối với chất thải rắn;

–  Thông tư 39/2008/TT-BTC ngày 9/5/2008 của Bộ Tài chính

Phí BVMT đối với khai thác khoáng sản:

Phí BVMT đối với hoạt động khai thác khoáng sản được thực hiện bắt đầu từ năm 2006, áp dụng đối với hoạt động khai thác khoáng sản kim loại và phi kim loại và được quy định cụ thể trong văn bản Nghị định số 74/2011/NĐ – CP ngày 25/8/2011 của Chính phủ về phí bảo vệ môi trường đối với khai thác khoáng sản.

Đặt cọc – hoàn trả 

Ký quỹ môi trường

Ở Việt Nam, công cụ ký quỹ môi trường hiện nay đang được áp dụng chủ yếu trong hoạt động khai thác khoáng sản nhằm đảm bảo trách nhiệm phục hồi môi trường trong khai thác tài nguyên. Môi trường khoáng sản là một trong những lĩnh vực đã thực hiện kinh tế hóa khá sớm ở nước ta với những quy định về phí BVMT và cải tạo phục hồi môi trường trong quá trình khai thác khoáng sản theo Luật Khoáng sản năm 1996. Ngoài ra, ký quỹ môi trường trong khai thác khoáng sản còn được quy định cụ thể trong các văn bản pháp luật sau:

– Thông tư liên bộ 126/1999/TTLT – BTC – BCN – KHCN&MT ngày 22/10/1999 của  Bộ Tài chính – Bộ Công nghiệp – Bộ Khoa học Công nghê và Môi trường hướng dẫn  việc ký quỹ để phục hồi môi trường trong khai thác khoáng sản.

– Quyết định 71/QĐ-TTg ngày 29/5/2008 của Thủ tướng Chính phủ về ký quỹ cải tạo, phục hồi môi trường đối  với hoạt động khai thác khoáng sản (thay thế Thông tư 126/1999/TTLT – BTC-BCN- KHCN&MT).

– Thông tư 34/2009/TT-BTNMT ngày 31 tháng 12 năm 2009 của Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định về việc phê duyệt, kiểm tra, xác nhận Dự án cải tạo, phục hồi môi trường và ký quỹ cải tạo, phục hồi môi trường đối với hoạt động khai thác khoáng sản. Thông tư nàý cũng quy định chi tiết một số nội dung của Quyết định 71/2008/QĐ-TTg ngày 29/5/2008 của Thủ tướng Chính phủ về ký quỹ cải tạo, phục hồi môi trường đối với hoạt động khai thác khoáng sản.

Bên cạnh đó, để có kế hoạch khai thác nguồn lợi thủy hải sản ven bờ bền vững, đồng thời hạn chế và giảm thiểu ô nhiễm vùng ven biển, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định 358/TTg ngày 29/5/1997 về ưu đãi đối với hoạt động khai thác hải sản ở vùng biển xa bờ. Theo đó, các tổ chức, cá nhân có tàu, thuyền hoạt động khai thác hải sản ở vùng biển xa bờ được hưởng một số ưu đãi về thuế tài nguyên, thuế giá trị gia tăng, thuế thu nhập doanh nghiệp và lệ phí trước bạ.

Hệ thống các văn bản pháp luật trong nước và quốc tế đã được Nhà nước Việt Nam phê duyệt là cơ sở quan trọng để thực hiện công tác quản lý Nhà nước về BVMT. Hiện nay, Việt Nam đang tiếp tục nghiên cứu hoàn thiện chính sách thuế, phí, các chính sách khác liên quan đến môi trường nhằm tăng cường hơn nữa công tác quản lý, kiểm soát và BVMT, hạn chế ô nhiễm, suy thoái môi trường, đảm bảo phát triển kinh tế – xã hội bền vững.