Categories
Main

Tổng quan về dịch vụ logistics

Nhanlamluanvan.com xin chia sẻ đến bạn tổng quan về dịch vụ logistics, bao gồm: Khái niệm, vai trò và phân loại một cách chi tiết nhất.

Tổng quan về dịch vụ logistics

>>> Xem thêm: Tổng quan về lập kế hoạch kinh doanh

1. Khái niệm dịch vụ logistics

Cùng với sự phát triển của lực lượng sản xuất và sự hỗ trợ đắc lực của cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật trên thế giới, khối lượng hàng hóa và sản phẩm vật chất được sản xuất ra ngày càng nhiều. Do khoảng cách trong các lĩnh vực cạnh tranh truyền thống như chất lượng hàng hóa hay giá cả ngày càng thu hẹp, các nhà sản xuất đã chuyển sang cạnh tranh về quản lý hàng tồn kho, tốc độ giao hàng, hợp lý hóa quá trình lưu chuyển nguyên nhiên vật liệu và bán thành phẩm, … trong cả hệ thống quản lý phân phối vật chất của doanh nghiệp. Trong quá trình đó, logistics có cơ hội phát triển ngày càng mạnh mẽ hơn trong lĩnh vực kinh doanh. Trong thời gian đầu, logistics chỉ đơn thuần được coi là một phương thức kinh doanh mới, mang lại hiệu quả cao cho các doanh nghiệp. Cùng với quá trình phát triển, logistics đã được chuyên môn hóa và phát triển trở thành một ngành dịch vụ đóng vai trò rất quan trọng trong giao thương quốc tế. 

Trong Luật Thương mại 2005, lần đầu tiên khái niệm về dịch vụ logistics được pháp điển hóa. Luật quy định “Dịch vụ logistics là hoạt động thương mại, theo đó thương nhân tổ chức thực hiện một hoặc nhiều công đoạn bao gồm nhận hàng, vận chuyển, lưu kho, lưu bãi, làm thủ tục hải quan, các thủ tục giấy tờ khác, tư vấn khách hàng, đóng gói bao bì, ghi ký mã hiệu, giao hàng hoặc các dịch vụ khác có liên quan tới hàng hóa theo thỏa thuận với khách hàng để hưởng thù lao”. 

Mặc dù có nhiều quan điểm khác nhau nhưng các khái niệm về dịch vụ logistics có thể chia làm hai nhóm: 

* Nhóm định nghĩa hẹp mà tiêu biểu là định nghĩa của Luật Thương mại 2005 có nghĩa hẹp, coi logistics gần tương tự với hoạt động giao nhận hàng hóa. Tuy nhiên cũng cần chú ý là định nghĩa trong Luật Thương mại có tính mở, thể hiện trong đoạn in nghiêng “hoặc các dịch vụ khác có liên quan tới hàng hóa”. Khái niệm logistics trong một số lĩnh vực chuyên ngành cũng được coi là nghĩa hẹp, tức là chỉ bó hẹp trong phạm vi, đối tượng của ngành đó (như ví dụ ở trên là trong lĩnh vực quân sự). Theo quan điểm này, bản chất của dịch vụ logistics là việc tập hợp các yếu tố hỗ trợ cho quá trình vận chuyển sản phẩm từ nơi sản xuất tới nơi tiêu thụ. Như vậy, dịch vụ logistics mang nhiều yếu tố vận tải, người cung cấp dịch vụ logistics theo khái niệm này không có nhiều khác biệt so với người cung cấp dịch vụ vận tải đa phương thức (MTO). 

Nhóm định nghĩa có phạm vi rộng. Theo quan điểm này, dịch vụ logistics gắn liền cả quá trình nhập nguyên, nhiên vật liệu làm đầu vào cho quá trình sản xuất, sản xuất ra hàng hóa và đưa vào các kênh lưu thông, phân phối để đến tay người tiêu dùng cuối cùng. Nhóm định nghĩa này của dịch vụ logistics góp phần phân định rõ ràng giữa các nhà cung cấp từng dịch vụ đơn lẻ như dịch vụ vận tải, giao nhận, khai thuê hải quan, phân phối, dịch vụ hỗ trợ sản xuất, tư vấn quản lý … với một nhà cung cấp dịch vụ logistics chuyên nghiệp, người sẽ đảm nhận toàn bộ các khâu trong quá trình hình thành và đưa hàng hóa tới tay người tiêu dùng cuối cùng. Như vậy, nhà cung cấp dịch vụ logistics chuyên nghiệp đòi hỏi phải có chuyên môn, nghiệp vụ vững vàng để cung cấp dịch vụ mang tính “trọn gói” cho các nhà sản xuất. Đây là một công việc mang tính chuyên môn hóa cao.

2. Vai trò của dịch vụ logistics

Dịch vụ logistics góp phần nâng cao hiệu quả quản lý, giảm thiểu chi phí trong quá trình sản xuất, tăng cường sức cạnh tranh cho các doanh nghiệp. 

Theo thống kê của một nghiên cứu, hoạt động logistics trên thị trường Trung Quốc tăng trưởng với tốc độ bình quân là 33%/năm và ở Brazil là 20%/năm. Bên cạnh đó, từ số liệu thống kê của một số tổ chức nghiên cứu về dịch vụ logistics cho biết chi phí cho hoạt động dịch vụ logistics chiếm 10-13% GDP ở các nước phát triển, ở các nước đang phát triển cao hơn khoảng 15-20%. Điều này cho thấy chi phí cho dịch vụ logistics là rất lớn, vì vậy với việc hình thành và phát triển dịch vụ logistics sẽ giúp các doanh nghiệp cũng như toàn bộ nền kinh tế quốc dân giảm được chi phí trong chuỗi logistics, làm cho quá trình sản xuất kinh doanh tinh giản hơn và đạt hiệu quả hơn. Giảm chi phí trong sản xuất, quá trình sản xuất kinh doanh tinh giản, hiệu quả sản xuất kinh doanh được nâng cao góp phần tăng sức cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường. Thực tế những năm qua tại các nước Châu Âu, chi phí logistics đã giảm xuống rất nhiều và còn có xu hướng giảm nữa trong các năm tới.

Dịch vụ logistics có tác dụng tiết kiệm và giảm chi phí trong hoạt động lưu thông phân phối. 

Giá cả hàng hóa trên thị trường chính bằng giá cả ở nơi sản xuất cộng với chi phí lưu thông. Chi phí lưu thông hàng hóa, chủ yếu là phí vận tải chiếm một tỷ lệ không nhỏ và là bộ phận cấu thành giá cả hàng hóa trên thị trường, đặc biệt là hàng hóa trong buôn bán quốc tế. Vận tải là yếu tố quan trọng của lưu thông. C. Mác đã từng nói “Lưu thông có ý nghĩa là hành trình thực tế của hàng hóa trong không gian được giải quyết bằng vận tải”. Vận tải có nhiệm vụ đưa hàng hóa đến nơi tiêu dùng và tạo khả năng để thực hiện giá trị và giá trị sử dụng của hàng hóa. Trong buôn bán quốc tế, chi phí vận tải chiếm tỷ trọng khá lớn, theo số liệu thống kê của UNCTAD thì chi phí vận tải đường biển chiếm trung bình 10-15% giá FOB, hay 8-9% giá CIF. Mà vận tải là yếu tố quan trọng nhất trong hệ thống logistics cho nên dịch vụ logistics ngày càng hoàn thiện và hiện đại sẽ tiết kiệm chi phí vận tải và các chi phí khác phát sinh trong quá trình lưu thông dẫn đến tiết kiệm và giảm chi phí lưu thông. Nếu tính cả chi phí vận tải, tổng chi phí logistics (bao gồm đóng gói, lưu kho, vận tải, quản lý, …) ước tính chiếm tới 20% tổng chi phí sản xuất ở các nước phát triển, trong khi đó nếu chỉ tính riêng chi phí vận tải có thể chiếm tới 40% giá trị xuất khẩu của một số nước không có đường bờ biển. 

Dịch vụ logistics góp phần gia tăng giá trị kinh doanh của các doanh nghiệp vận tải giao nhận. 

Dịch vụ logistics là loại hình dịch vụ có quy mô mở rộng và phức tạp hơn nhiều so với hoạt động vận tải giao nhận thuần túy. Trước kia, người kinh doanh dịch vụ vận tải giao nhận chỉ cung cấp cho khách hàng những dịch vụ đơn giản, thuần túy và đơn lẻ. Ngày nay, do sự phát triển của sản xuất, lưu thông, các chi tiết của một sản phẩm có thể do nhiều quốc gia cung ứng và ngược lại một loại sản phẩm của doanh nghiệp có thể tiêu thụ tại nhiều quốc gia, nhiều thị trường khác nhau, vì vậy dịch vụ mà khách hàng yêu cầu từ người kinh doanh vận tải giao nhận phải đa dạng và phong phú. Người vận tải giao nhận ngày nay đã triển khai cung cấp các dịch vụ nhằm đáp ứng yêu cầu thực tế của khách hàng. Họ trở thành người cung cấp dịch vụ logistics (logistics service provider). Rõ ràng, dịch vụ logistics đã góp phần làm gia tăng giá trị kinh doanh của các doanh nghiệp vận tải giao nhận. Theo kinh nghiệm ở những nước phát triển cho thấy, thông qua việc sử dụng dịch vụ logistics trọn gói, các doanh nghiệp sản xuất có thể rút ngắn thời gian từ lúc nhận đơn hàng cho đến lúc giao sản phẩm cho khách hàng từ 5-6 tháng xuống còn 2 tháng. Kinh doanh dịch vụ này có tỷ suất lợi nhuận cao gấp 3-4 lần sản xuất và gấp từ 1-2 lần các dịch vụ ngoại thương khác. 

Dịch vụ logistics phát triển góp phần mở rộng thị trường trong buôn bán quốc tế. 

Sản xuất có mục đích là phục vụ tiêu dùng, cho nên trong sản xuất kinh doanh, vấn đề thị trường luôn là vấn đề quan trọng và luôn được các nhà sản xuất và kinh doanh quan tâm. Các nhà sản xuất kinh doanh muốn chiếm lĩnh và mở rộng thị trường cho sản phẩm của mình phải cần sự hỗ trợ của dịch vụ logistics. Dịch vụ logistics có tác dụng như chiếc cầu nối trong việc chuyển dịch hàng hóa trên các tuyến đường mới đến các thị trường mới đúng yêu cầu về thời gian và địa điểm đặt ra. Dịch vụ logistics phát triển có tác dụng rất lớn trong việc khai thác và mở rộng thị trường kinh doanh cho các doanh nghiệp. 

Dịch vụ logistics phát triển góp phần giảm chi phí, hoàn thiện và tiêu chuẩn hóa chứng từ trong kinh doanh quốc tế 

Thực tiễn, một giao dịch trong buôn bán quốc tế thường phải tiêu tốn các loại giấy tờ, chứng từ. Theo ước tính của Liên Hợp Quốc, chi phí về giấy tờ để phục vụ mọi mặt giao dịch thương mại trên thế giới hàng năm đã vượt quá 420 tỷ USD. Theo tính toán của các chuyên gia, riêng các loại giấy tờ, chứng từ rườm rà hàng năm khoản chi phí tiêu tốn cho nó cũng chiếm tới hơn 10% kim ngạch mậu dịch quốc tế, ảnh hưởng rất lớn tới các hoạt động buôn bán quốc tế. Logistics đã cung cấp các dịch vụ đa dạng trọn gói đã có tác dụng giảm rất nhiều các chi phí cho giấy tờ, chứng từ trong buôn bán quốc tế. Dịch vụ vận tải đa phương thức do người kinh doanh dịch vụ logistics cung cấp đã loại bỏ đi rất nhiều chi phí cho giấy tờ thủ tục, nâng cấp và chuẩn hóa chứng từ cũng như giảm khối lượng công việc văn phòng trong lưu thông hàng hóa, từ đó nâng cao hiệu quả buôn bán quốc tế.

Ngoài ra, cùng với việc phát triển logistics điện tử (electronic logistics) sẽ tạo ra cuộc cách mạng trong dịch vụ vận tải và logistics, chi phí cho giấy tờ, chứng từ trong lưu thông hàng hóa càng được giảm tới mức tối đa, chất lượng dịch vụ logistics ngày càng được nâng cao sẽ thu hẹp hơn nữa cản trở về mặt không gian và thời gian trong dòng lưu chuyển nguyên vật liệu và hàng hóa. Các quốc gia sẽ xích lại gần nhau hơn trong hoạt động sản xuất và lưu thông.

3. Phân loại dịch vụ logistics

3.1. Theo phân loại của WTO 

Dịch vụ logistics lõi (Core Logistics Service): Dịch vụ thiết yếu trong hoạt động logistics và cần phải tiến hành tự do hóa để thúc đẩy sự lưu chuyển dịch vụ bao gồm: dịch vụ làm hàng, dịch vụ lưu kho, dịch vụ đại lý vận tải và các dịch vụ hỗ trợ khác. 

Dịch vụ có liên quan tới vận tải: Các dịch vụ có liên quan tới cung cấp có hiệu quả dịch vụ logistics tích hợp cũng như cung cấp môi trường thuận lợi cho hoạt động của logistics bên thứ 3 phát triển gồm có vận tải hàng hóa (đường biển, đường thủy nội địa, hàng không, đường sắt, đường bộ và cho thuê phương tiện không có người vận hành) và các dịch vụ khác có liên quan tới dịch vụ logistics gồm dịch vụ phân tích và thử nghiệm kỹ thuật, dịch vụ chuyển phát, dịch vụ đại lý hoa hồng, dịch vụ bán buôn và bán lẻ. 

Dịch vụ thứ yếu hoặc mang tính bổ trợ (Non-core Logistics Service): Gồm dịch vụ máy tính và liên quan tới máy tính, dịch vụ đóng gói và dịch vụ tư vấn quản lý.

3.2. Theo quy định của Luật Thương mại 

Theo Luật Thương mại Việt Nam 2005, Điều 233 quy định các dịch vụ logistics cụ thể sau: 

Các dịch vụ logistics chủ yếu bao gồm: 

Dịch vụ bốc xếp hàng hóa, bao gồm cả hoạt động bốc xếp container. 

Dịch vụ kho bãi, lưu trữ hàng hóa bao gồm cả hoạt động kinh doanh kho bãi container và kho xử lý nguyên liệu, thiết bị.

Dịch vụ đại lý vận tải, bao gồm cả hoạt động đại lý làm thủ tục hải quan và lập kế hoạch bốc dỡ hàng hóa. 

Dịch vụ bổ trợ khác, bao gồm các hoạt động tiếp nhận, lưu kho và quản lý thông tin liên quan đến vận chuyển và lưu kho hàng hóa trong suốt cả chuỗi logistics; hoạt động xử lý lại hàng hóa, hàng hóa tồn kho, hàng bị trả lại, lỗi mốt và tái phân phối; hoạt động cho thuê và thuê mua container. 

Các dịch vụ logistics liên quan đến vận tải bao gồm: 

+ Dịch vụ vận tải hàng hải. 

+ Dịch vụ vận tải thủy nội địa. 

+ Dịch vụ vận tải hàng không. 

+ Dịch vụ vận tải đường sắt. 

+ Dịch vụ vận tải đường bộ. 

+ Dịch vụ vận tải đường ống.

Các dịch vụ logistics liên quan khác:

  • Dịch vụ kiểm tra, phân tích kỹ thuật. 
  • Dịch vụ bưu chính. 
  • Dịch vụ thương mại bán buôn. 
  • Dịch vụ bán lẻ bao gồm hoạt động quản lý hàng lưu kho, thu gom, tập hợp, phân loại, phân phối và giao hàng. 
  • Dịch vụ hỗ trợ vận tải khác. 

Các phân loại này phù hợp với Biểu cam kết về dịch vụ vận tải của Việt Nam với WTO nhưng chưa thể hiện được những loại hình dịch vụ hiện đại trong điều kiện hiện nay. 

3.3. Theo nội dung dịch vụ 

Nhóm dịch vụ thiết kế và hoạch định chiến lược logistics cho các doanh nghiệp (Designing/Planning): Cung cấp dịch vụ logistics tiến hành thiết kế kế hoạch cơ cấu lại dây chuyền cung ứng của khách hàng sao cho đạt kết quả tối ưu và phát huy tối đã các lợi thế trong cạnh tranh. Ở đây, các công ty cung cấp dịch vụ logistics sẽ dựa trên thực trạng tổ chức sản xuất của khách hàng để xây dựng một chuỗi cung ứng phù hợp, xây dựng qui trình sản xuất hợp lý, đảm bảo giảm tối đa thời gian, chi phí không cần thiết.

Nhóm dịch vụ logistics đầu vào (Inbound logistics): bao gồm 

Kitting: Quản lý công đoạn lựa chọn, đóng góp và chuyên chở các bộ phận linh kiện chưa lắp ráp tới dây chuyền sản xuất của doanh nghiệp. 

Quality control/ Quality assurance: Tiến hành kiểm tra chất lượng tại kho và loại bỏ các sản phẩm không đạt tiêu chuẩn chuyên chở ngược lại cho nhà sản xuất thay thế các linh kiện không đảm bảo chất lượng. 

Sequencing: Sắp xếp các bộ phận, vật tư cho một dây chuyền sản xuất theo thứ tự cụ thể để tiện sản xuất và đóng gói. 

Milk runs: Tối ưu hóa dòng vận chuyển hàng hóa bằng cách gom hàng và giao hàng cho nhiều khách hàng trong cùng một thời điểm. Thiết kế một lộ trình phức hợp với nhiều điểm bốc xếp, kết hợp nhiều đơn hàng từ nhiều khách hàng tại cùng một thời điểm. Mục đích là sử dụng tối đa năng lực chuyên chở của phương tiện và tiết kiệm chi phí vận tải. 

VIM (Vendor Inventory Management): Tiến hành gom hàng từ nhiều nhà cung cấp nhỏ lẻ những mặt hàng hay vật tư cần thiết cho quá trình sản xuất kinh doanh của khách hàng, lưu kho và phân phối tới cho khách hàng. 

Nhóm dịch vụ hỗ trợ sản xuất (Manufacturing Support): bao gồm: 

Sub – Assembly: Áp dụng đối với các ngành điện tử, ô tô, hàng tiêu dùng nhanh. Công ty logistics sẽ đảm nhận luôn công việc lắp ráp các bộ phận cơ bản của sản phẩm từ các linh kiện đơn lẻ. 

Inventory Planning: Lên kế hoạch và kiểm soát quá trình lưu kho với các hệ thống quản lý kho hiện đại nhất đảm bảo tối ưu lượng dự trữ và giảm thiểu chi phí. 

+ Packing/Labeling: Đóng gói và dán nhãn hàng hóa.

Nhóm dịch vụ logistics đầu ra (Outbound Logistics/Warehousing and Distribution): Với hệ thống kho hiện đại và quy mô lớn, các công ty logistics có thể đảm nhiệm lưu kho thành phẩm và phân phối tới tay người tiêu dùng với chi phí thấp. Ngoài ra theo yêu cầu của khách hàng, các công ty này còn cung cấp một số dịch vụ kho đặc biệt như: Contract warehousing (Kho thuê theo hợp đồng); Dedicated warehousing (Kho chuyên dụng); Multi-user warehousing (Kho công cộng); Bonded warehousing (Kho ngoại quan); Automated warehousing (Kho tự động); Cross-docking warehousing (kho đa năng). 

Nhóm dịch vụ GNVT và gom hàng liên quan đến toàn bộ dòng lưu chuyển của vật tư và hàng hóa: bao gồm:

Ocean/Air freight (vận tải đường biển, đường hàng không): Vận chuyển hàng nguyên container (FCL), hàng lẻ (LCL), hàng không. 

Dedicated contract carriage (chuyên chở hàng hóa theo hợp đồng chuyên dụng). 

Intermodal service (Vận tải đa phương thức). 

Merge – in – Transit: Áp dụng cho các công ty nhập bộ phận hoàn chỉnh từ nhiều nhà cung cấp, công ty logistics sẽ kết hợp đầu vào và đầu ra của dây chuyền cung ứng một cách ăn khớp và hiệu quả, tiến hành lắp ráp thành sản phẩm cuối cùng và giao trực tiếp cho khách hàng. 

Customer Service ( Dịch vụ khách hàng). 

Nhóm dịch vụ sau bán hàng (Aftermarket logistics): Các LSP có thể giúp khách hàng quản lý các yếu tố phát sinh sau giao dịch, bao gồm một số dịch vụ: 

Return Logistics: Quản lý quá trình thu hồi các hàng phế phẩm, tái chế hoặc hủy bỏ giúp khách hàng. 

Repair Logistics: Tiếp nhận và sửa chữa thành phẩm hoặc bộ phận. 

Revers Logistics: Thiết kế và quản lý dòng vật liệu hoặc thiết bị không sử dụng ngược trở lại dây chuyền cung ứng. 

Call Center: Tiếp nhận đơn hàng và đăng ký giao hàng giúp khách hàng

Dịch vụ logistics hàng đầu (Lead Logistics Provider): Thay mặt khách hàng quản lý toàn bộ chuỗi cung ứng hoặc khi cần thiết thuê lại dịch vụ của một số công ty logistics khác, khách hàng chỉ phải giao dịch với một nhà cung cấp dịch vụ duy nhất.

Categories
Main

Lý luận chung về hợp đồng tín dụng

Nhanlamluanvan.com xin chia sẻ đến bạn nội dung những lý luận chung về hợp đồng tín dụng, bao gồm: Khái niệm, đặc điểm và nội dung 

Lý luận chung về hợp đồng tín dụng

>>> Xem thêm: Cơ sở lý luận về hợp đồng mua bán hàng hóa

1. Khái niệm hợp đồng tín dụng

Hợp đồng được định nghĩa là sự thỏa thuận bằng lời nói (hoặc văn bản) giữa hai hay nhiều chủ thể có đủ năng lực pháp luật và năng lực hành vi, nhằm xác lập, thực hiện hay chấm dứt các quyền và nghĩa vụ pháp lý nhất định trên cơ sở phù hợp với pháp luật và đạo đức xã hội. 

Từ quan niệm chung về hợp đồng, căn cứ vào bản chất hoạt động tín dụng của tổ chức tín dụng, có thể đưa ra một định nghĩa về hợp đồng tín dụng như sau: Hợp đồng tín dụng là sự thỏa thuận bằng văn bản giữa tổ chức tín dụng (bên cho vay) với tổ chức, cá nhân có đủ những điều kiện do luật định (bên vay), theo đó tổ chức tín dụng thỏa thuận ứng trước một số tiền cho bên vay sử dụng trong một thời hạn nhất định, với điều kiện có hoàn trả cả gốc và lãi, dựa trên sự tín nhiệm.

2. Đặc điểm của hợp đồng tín dụng

Hợp đồng tín dụng ngân hàng là một dạng của hợp đồng vay, vì vậy nó cũng mang những đặc điểm của hợp đồng vay tài sản nói chung. Đặc điểm này thể hiện ở chỗ hợp đồng tín dụng ngân hàng là hợp đồng đơn vụ theo quy định tại khoản 2-điều 405 Bộ luật dân sự. Điều đó có nghĩa là trong hợp đồng tín dụng ngân hàng chỉ có bên tín dụng mới có quyền yêu cầu và bên khách hàng có nghĩa vụ phải trả đầy đủ số nợ tín dụng khi đến hạn và các nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, do hoạt động ngân hàng có những điểm đặc thù so với các hoạt động kinh doanh khác nên hợp đồng tín dụng ngân hàng cũng có những đặc điểm riêng. Ngoài những đặc điểm chung của mọi loại hợp đồng, hợp đồng tín dụng còn có một số dấu hiệu đặc trưng sau đây để phân biệt với các chủng loại hợp đồng khác trong giao lưu dân sự và thương mại.

2.1. Về chủ thể hợp đồng tín dụng

Một bên tham gia hợp đồng bao giờ cũng là tổ chức tín dụng có đủ các điều kiện luật định, với tư cách là bên cho vay. Còn chủ thể bên kia (bên vay) có thể là doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân thỏa mãn những điều kiện vay vốn do pháp luật quy định như luật tổ chức tín dụng, luật doanh nghiệp, luật ngân hàng…và các văn bản quy phạm pháp luật. Đây cũng là điểm khác cơ bản giữa hợp đồng tín dụng với hợp đồng vay khác. Tổ chức tín dụng có thể yêu cầu khách hàng vay vốn trong hợp đồng tín dụng phải thỏa mãn một số điều kiện nhất định về tư cách pháp lý và khả năng tài chính như: khách hàng vay phải có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự và phải chịu trách nhiệm dân sự theo quy định của pháp luật và phải có khả năng tài chính đảm bảo trả nợ trong thời hạn cam kết.

2.2. Đối tượng của hợp đồng tín dụng

Về nguyên tắc, đối tượng của hợp đồng tín dụng bao giờ cũng phải là một số tiền xác định và phải được các bên thỏa thuận, ghi rõ trong văn bản hợp đồng; ngoài ra còn có các giấy tờ có giá như quyền sử dụng đất, các tài sản khác như nhà ở…

2.3. Hợp đồng tín dụng vốn chứa đựng nguy cơ rủi ro rất lớn cho quyền lợi của bên cho vay

Sở dĩ như vậy là vì theo cam kết trong hợp đồng tín dụng, bên cho vay chỉ có thể đòi tiền của bên vay sau một thời hạn nhất định. Nếu thời hạn cho vay càng dài thì nguy cơ rủi ro và bất trắc càng lớn. Vì thế mà các tranh chấp phát sinh từ hợp đồng tín dụng cũng thường xảy ra với số lượng và tỷ lệ lớn hơn so với đa số các loại hợp đồng khác. Tính rủi ro này xuất phát từ những đặc thù của đối tượng của hợp đồng tín dụng ngân hàng, đặc thù của hai bên chủ thể của hợp đồng tín dụng ngân hàng. Hợp đồng tín dụng ngân hàng khác với hợp đồng vay tài sản trong pháp luật dân sự ở chỗ đối tượng duy nhất của hợp đồng tín dụng ngân hàng là tiền tệ, trong khi đối tượng của hợp đồng vay tài sản có thể là tiền hoặc vật. Tiền tệ với một trong các chức năng của mình là phương tiện thanh toán giúp cho khách hàng vay của ngân hàng sử dụng chúng một cách dễ dàng, thậm chí sử dụng chúng ngoài những mục đích mà họ cam kết với ngân hàng khi xin vay. Mặt khác, với tư cách là một tổ chức trung gian tài chính, là nhịp cầu kết nối giữa nguồn cung và cầu về vốn tiền tệ, các tổ chức tín dụng đã điều tiết từ nơi tạm thời thừa vốn sang tạm thời thiếu vốn, áp dụng các biện pháp thích hợp để huy động vốn tạm thời nhàn rỗi trong xã hội để tạo nên nguồn vốn cho vay. Trên cơ sở nguồn vốn tự có và nguồn vốn huy động, các tổ chức tín dụng thông qua các hợp đồng tín dụng, đáp ứng các nhu cầu về vốn cho các khách hàng vay thuộc mọi thành phần kinh tế. Tuy nhiên, chính do chức năng trung gian này của các tổ chức tín dụng mà các rủi ro trong hoạt động kinh doanh của khách hàng vay sẽ ảnh hưởng ngay đến các tổ chức tín dụng. Ngoài ra, do tín dụng ngân hàng được hình thành chủ yếu trên cơ sở tiền gửi của dân chúng, nên rủi ro trong tín dụng ngân hàng không chỉ ảnh hưởng đến ngân hàng mà còn ảnh hưởng đến quyền lợi của người gửi tiền vào ngân hàng và cả xã hội. Còn đối với hợp đồng vay tài sản phát sinh trong giao dịch dân sự, do người cho vay dùng tài sản của chính mình để cho vay nên khi rủi ro xảy ra thì chỉ người cho vay phải gánh chịu hậu quả. Rủi ro này không làm ảnh đến những người khác và xã hội như đối với hợp đồng tín dụng. Đặc trưng này đã tạo ra cho hợp đồng tín dụng có những nét đặc thù như điều kiện chặt chẽ về chủ thể, về hình thức hợp đồng, về các biện pháp bảo lãnh.

2.4. Về cơ chế thực hiện quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng tín dụng

Trong hợp đồng tín dụng, nghĩa vụ chuyển giao tiền vay (nghĩa vụ giải ngân) của bên cho vay bao giờ cũng phải được thực hiện trước, làm cơ sở, tiền đề cho việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của bên vay. Do đó, chỉ khi nào bên cho vay chứng minh được rằng họ đã chuyển giao tiền vay theo đúng hợp đồng tín dụng cho bên vay thì khi đó họ mới có quyền yêu cầu bên vay phải thực hiện các nghĩa vụ đối với mình.

2.5. Hợp đồng tín dụng là hợp đồng luôn nhằm mục đích thu lợi nhuận

Khác với hợp đồng vay tài sản yếu tố lãi suất không phải là yếu tố bắt buộc, mà phụ thuộc vào sự thỏa thuận của các bên. Trong hợp đồng tín dụng tổ chức tín dụng thu lợi nhuận không chỉ nhằm mục đích bù đắp cho những chi phí cho các hoạt động của mình như: trả lãi tiền gửi, trả lương cho nhân viên… mà còn nhằm bảo đảm cho những hoạt động đặc trưng mang tính rủi ro cao của mình, bù đắp cho các rủi ro luôn xảy ra đối với tổ chức tín dụng. Như vậy, việc thu lợi nhuận không chỉ xuất phát từ lợi ích của tổ chức tín dụng, mà còn xuất phát lợi ích của người gửi tiền và lợi ích của xã hội.

2.6. Hợp đồng tín dụng chỉ được ký kết dưới hình thức văn bản

Hợp đồng tín dụng đòi hỏi văn phạm trong việc soạn thảo hợp đồng phải dứt khoát, rõ ràng, ngắn gọn, đủ ý và ngôn ngữ phải chính xác, cụ thể. Hình thức văn bản là đặc trưng cơ bản của hợp đồng tín dụng. Mặc dù hợp đồng tín dụng được hình thành trên cơ sở tín nhiệm, tin cậy lẫn nhau, song do tính chất phức tạp của quan hệ tín dụng ngân hàng xuất phát từ tính rủi ro cao, từ đặc thù về đối tượng, về chủ thể của quan hệ đó, mà hợp đồng tín dụng nhất thiết phải được thể hiện bằng văn bản.

2.7. Hợp đồng tín dụng ngân hàng là hợp đồng ưng thuận

Hợp đồng tín dụng đã phát sinh hiệu lực ngay sau khi các bên giao kết hợp đồng dưới hình thức văn bản theo quy định của pháp luật. Trong trường hợp này dù rằng các bên chưa trực tiếp thực hiện các nghĩa vụ đã cam kết, nhưng đã phát sinh quyền yêu cầu của bên này đối với bên kia trong việc thực hiện hợp đồng. Còn các hợp đồng vay khác luôn luôn là hợp đồng thực tế, nghĩa là hợp đồng này chỉ được có hiệu lực khi các bên thực hiện hành vi chuyển giao cho nhau đối tượng vay mà họ đã thỏa thuận.

3. Nội dung của hợp đồng tín dụng

Nội dung của hợp đồng tín dụng là tổng thể những điều khoản do các bên có đủ tư cách chủ thể cam kết với nhau một cách tự nguyện, bình đẳng và không vi phạm điều cấm của pháp luật và nó không trái với đạo đức xã hội. Nội dung của hợp đồng tín dụng phải do các bên tự định đoạt trên nguyên tắc đồng thuận về ý chí; thỏa mãn những điều kiện: 

Các điều khoản của hợp đồng tín dụng phải do chính các bên soạn thảo ra trên tinh thần tự nguyện, bình đẳng và các bên cùng có lợi. 

Các điều khoản của hợp đồng tín dụng phải phản ánh ý chí đích thực của các bên giao kết và phải phù hợp với quy định của pháp luật. 

Các điều khoản của hợp đồng tín dụng phải là kết quả của sự đồng ý giữa các bên giao kết. Sự hoà hợp ý chí chung giữa các bên ký kết là một trong những điều kiện căn bản để đảm bảo cho sự hữu hiệu của hợp đồng tín dụng. Trái lại, nếu bất kỳ một điều khoản nào đó của hợp đồng tín dụng mà có bằng cớ chứng minh rằng không có sự đồng thuận giữa các bên lập ước thì điều khoản đó có thể bị coi là vô hiệu.

Categories
Main

Cơ sở lý luận về hợp đồng mua bán hàng hóa

Nhanlamluanvan.com xin chia sẻ đến bạn nội dung cơ sở lý luận về hợp đồng mua bán hàng hóa, bao gồm: Khái niệm, các điều kiện cơ bản và nội dung các điều kiện của hợp đồng mua bán hàng hóa.

Cơ sở lý luận về hợp đồng mua bán hàng hóa

>>> Xem thêm: Lý luận chung về hợp đồng tín dụng

1. Khái niệm hợp đồng mua bán hàng hóa

Như được định nghĩa tại Điều 1 – Pháp lệnh Hợp đồng kinh tế ngày 25/9/1989, hợp đồng kinh tế là sự thỏa thuận bằng văn bản, tài liệu giao dịch giữa các bên ký kết về việc thực hiện công việc sản xuất, trao đổi hàng hoá, dịch vụ, nghiên cứu, ứng dụng tiến bộ khoa học – kỹ thuật và các thỏa thuận khác có mục đích kinh doanh với sự quy định rõ ràng quyền và nghĩa vụ của mỗi bên để xây dựng và thực hiện kế hoạch của mình. 

Trong giao dịch quốc tế, hợp đồng ngoại thương là hợp đồng mua bán hàng hoá giữa các bên có trụ sở thương mại tại các quốc gia khác nhau.

Hợp đồng có thể là một văn bản thỏa thuận được cả hai bên ký kết hoặc có thể là một chào hàng cố định ràng buộc người bán và chấp nhận chào hàng của người mua. Hợp đồng được coi là đã hình thành và có hiệu lực pháp lý từ thời điểm các bên đã ký vào văn bản hoặc từ khi các bên nhận được tài liệu giao dịch thể hiện sự thỏa thuận về tất cả những điều khoản chủ yếu của hợp đồng. 

Tuy nhiên, đối với các hợp đồng ngoại thương, Công ước của Liên hợp quốc về hợp đồng mua bán quốc tế (Công ước Viên 1980) quy định “Hợp đồng mua bán không cần phải được ký kết hoặc xác nhận bằng văn bản hay phải tuân thủ một yêu cầu nào khác về hình thức của hợp đồng. Hợp đồng có thể được chứng minh bằng mọi cách, kể cả những lời khai của nhân chứng”.

2. Các điều kiện cơ bản của một hợp đồng mua bán hàng hóa

Điều 50 Luật thương mại Việt Nam quy định:

“Hợp đồng mua bán hàng hoá phải có các nội dung chủ yếu sau đây: 

  • Tên hàng; 
  • Số lượng; 
  • Quy cách, chất lượng; 
  • Giá cả;
  • Phương thức thanh toán; 
  • Địa điểm và thời hạn giao nhận hàng.” 

Ngoài các nội dung chủ yếu quy định trên, các bên có thể thỏa thuận các nội dung khác trong hợp đồng như điều kiện bảo hành, điều kiện khiếu nại, điều kiện trọng tài… Đối với các hợp đồng mua bán ngoại thương, các điều kiện cơ sở giao hàng, điều kiện vận tải là những cơ sở rất quan trọng để các bên thực hiện các nghĩa vụ của mình.

3. Nội dung một số điều kiện cơ bản của hợp đồng mua bán hàng hóa

3.1. Điều kiện tên hàng

“Tên hàng” là điều khoản quan trọng của mọi đơn chào hàng, thư hỏi hàng, hợp đồng hoặc nghị định thư. Nó nói lên chính xác đối tượng mua bán, trao đổi. Vì vậy, người ta luôn tìm cách diễn đạt chính xác tên hàng. Có những cách sau đây để biểu đạt tên hàng:

Người ta ghi tên thương mại của hàng hoá nhưng còn ghi kèm theo tên thông thường và tên khoa học của nó.

Người ta ghi tên hàng kèm theo tên địa phương sản xuất ra hàng đó. Ví dụ: rượu vang Bordeaux, thuỷ tinh Bohemia…

Người ta ghi tên hàng kèm theo tên hãng sản xuất ra hàng đó. Ví dụ: xe máy Honda.

Người ta ghi tên hàng kèm theo nhãn hiệu của nó. Ví dụ: bia Tiger. 

Người ta ghi tên hàng kèm theo quy cách chính của hàng hoá đó. Ví dụ: xe tải 10 tấn, TV màn ảnh màu 14 inches.

Người ta ghi tên hàng kèm theo công dụng của hàng hoá đó. Ví dụ: tuyn để làm màn, lưỡi cưa để cưa gỗ có dầu…

Người ta ghi tên hàng kèm theo số hiệu hạng mục của hàng đó trong danh mục hàng hoá thống nhất. Ví dụ: mô tơ điện, mục 100.101. 

Ngoài ra, có khi người ta còn kết hợp hai hay nhiều phương pháp trên đây. 

Ví dụ: TV màu 14 inches của hãng Sony.

3.2. Điều kiện số lượng

Nhằm nói lên mặt “lượng” của hàng hoá được giao dịch, điều khoản này bao gồm các vấn đề về đơn vị tính số lượng (hoặc trọng lượng) của hàng hoá, phương pháp qui định số lượng và phương pháp xác định trọng lượng. 

Đơn vị tính số lượng 

Nếu hàng hoá mua bán được tính bằng cái, chiếc, hòm, kiện thì rất dễ dàng. Những hàng tính theo chiều dài, trọng lượng, thể tích và dung tích thì đơn vị phức tạp hơn nhiều: nếu đơn vị tính không được qui định rõ ràng, các bên giao dịch dễ có sự hiểu lầm nhau. 

Nguyên nhân của sự hiểu trái ý nhau là do, trong buôn bán quốc tế, nhiều đơn vị đo lường có cùng một tên gọi nhưng ở mỗi nước lại có một nội dung khác. Ví dụ, một bao bông ở Ai Cập là 330kg, ở Braxin là 180kg, một bì cà phê các nước thường là 60 cân Anh (27,13kg) nhưng ở Côlômbia lại là 70 cân Anh (31,7kg).

Ngoài ra, một nguyên nhân đáng kể khác nữa là sự áp dụng đồng thời nhiều hệ thống đo lường trong buôn bán quốc tế. Ngoài các đơn vị thuộc mét hệ, người ta còn dùng hệ thống đo lường của Anh, của Mỹ, v.v…

Trong thực tiễn buôn bán quốc tế, người ta có thể qui định số lượng hàng hóa giao dịch bằng hai cách:

Một là, bên bán và bên mua qui định cụ thể số lượng hàng hoá giao dịch. Đó là một khối lượng được khẳng định dứt khoát. Khi thực hiện hợp đồng các bên không được phép giao nhận theo số lượng khác với số lượng đó. Phương pháp này thường được dùng đối với những hàng tính bằng cái, chiếc. 

Hai là, bên bán và bên mua qui định một cách phỏng chừng về số lượng hàng hoá giao dịch. Khi thực hiện hợp đồng, các bên có thể giao

nhận theo một số lượng cao hoặc thấp hơn số lượng qui định trong hợp đồng. Khoản chênh lệch đó gọi là dung sai về số lượng. Điều khoản của đơn chào hàng, hợp đồng hoặc hiệp định qui định dung sai về số lượng gọi là điều khoản số lượng phỏng chừng (moreless clause).

3.3. Điều kiện phẩm chất

“Phẩm chất” là điều khoản nói lên mặt “chất” của đối tượng – hàng hoá mua bán, nghĩa là tính năng (như lý tính, hoá tính, tính chất cơ lý…), quy cách, kích thước, tác dụng, công suất, hiệu suất… của hàng hoá đó. Để quy định chính xác mặt chất như thế của hàng hoá, người ta vận dụng các phương pháp sau:

Dựa vào mẫu hàng 

Theo phương pháp này, chất lượng của hàng hoá được xác định căn cứ vào chất lượng của một số ít hàng hoá, gọi là mẫu hàng, do người bán đưa ra và được người mua thỏa thuận. Những hàng hoá mua bán dựa vào mẫu hàng thường là những hàng hoá khó tiêu chuẩn hoá và khó mô tả. Ví dụ: hàng mỹ nghệ, một số hàng nông sản…

Dựa vào phẩm cấp (category) hoặc tiêu chuẩn (standard) 

Tiêu chuẩn là những quy định về sự đánh giá chất lượng (các chỉ tiêu phẩm chất), về phương pháp sản xuất, chế biến, đóng gói, kiểm tra hàng hoá… Trong khi xác định tiêu chuẩn, người ta cũng thường quy định cả phẩm cấp, ví dụ những yêu cầu về chất lượng hàng loại 1, hàng loại 2… Vì thế phẩm cấp cũng là tiêu chuẩn.

Dựa vào quy cách (specification) của hàng hoá 

Quy cách là những chi tiết về mặt chất lượng như công suất, kích cỡ, trọng lượng… của một hàng hoá. Phương pháp xác định phẩm chất hàng dựa vào quy cách thường được dùng trong việc mua bán các thiết bị, máy móc, công cụ vận tải…

Dựa vào các chỉ tiêu đại khái quen dùng

Khi mua bán những mặt hàng nông sản, nguyên liệu mà chất lượng của chúng khó tiêu chuẩn hoá, trên thị trường quốc tế người ta thường dùng một số chỉ tiêu phỏng chừng như FAQ (“Fair Average Quality”, có nghĩa là: phẩm chất bình quân khá), GMQ (Good Merchantable Quality) có nghĩa là: phẩm chất tiêu thụ tốt..

Dựa vào số lượng thành phẩm thu được từ hàng hoá đó 

Theo phương pháp này, người ta qui định số lượng thành phẩm được sản xuất ra từ hàng hoá mua bán, ví dụ số lượng dầu lấy được từ hạt có dầu(như đỗ tương, vừng, lạc, thầu dầu, …), số lượng len lấy được từ lông cừu, số lượng đường kính lấy được từ đường thô… Phương pháp này thường dùng trong mua bán nguyên liệu hoặc bán thành phẩm. 

Dựa vào hiện trạng hàng hoá (tale quale) 

Phương pháp này thường chỉ được dùng trong buôn bán quốc tế về hàng nông sản và khoáng sản, khi hợp đồng mua bán ký kết theo điều kiện “chỉ bán nếu hàng đến” (to arrive sale). ý nghĩa của nó là “có thế nào giao thế ấy”. Do đó, phẩm chất của hàng giao đúng như mẫu hàng đã lấy được khi bốc, còn khi hàng đến bến phẩm chất hàng như thế nào người mua phải nhận như vậy, tức là người mua phải chịu những rủi ro, hư hại về hàng hoá trong quá trình chuyên chở. 

Dựa vào sự xem hàng trước 

Phương pháp này còn được gọi là “đã xem và đồng ý” (inspected-approved), tức là hàng được người mua xem và đồng ý, còn người mua phải nhận hàng và trả tiền hàng.

Dựa vào tài liệu kỹ thuật

Trong việc mua bán máy móc, thiết bị, hàng công nghiệp tiêu dùng lâu bền, trên hợp đồng mua bán, người ta thường dẫn chiếu đến một tài liệu kỹ thuật như: bản vẽ kỹ thuật, sơ đồ lắp ráp, bản thuyết minh tính năng và tác dụng, bản hướng dẫn sử dụng…Trong trường hợp này, người ta còn ký và đóng dấu vào tài liệu kỹ thuật và qui định rằng tài liệu đó là bộ phận không tách rời của hợp đồng. 

Dựa vào nhãn hiệu hàng hoá 

Thường thường đối với những mặt hàng công nghiệp hoặc hàng nông sản chế biến như đồ hộp, thuốc lá, chè, cà phê, rượu…, mỗi nhãn hiệu đại biểu cho một phẩm cấp nhất định. Ví dụ, nước mắm Phú Quốc đại biểu cho một phẩm chất khác với nước mắm Nha Trang. Vì vậy, trên hợp đồng, người ta có thể dẫn chiếu đến nhãn hiệu để nói lên phẩm chất của hàng hoá mua bán. Thông thường, để xác định chính xác hơn, trong trường hợp này, người ta còn ghi rõ năm sản xuất (year of production) và seri sản xuất của loại hàng có nhãn hiệu đó. 

Dựa vào mô tả hàng hoá 

Theo phương pháp này, trên hợp đồng, người ta nêu lên những đặc điểm về màu sắc, hình dáng, kích thước, tính năng… và các chỉ tiêu khác về phẩm chất hàng hoá. Phương pháp này được dùng rộng rãi và thường được dùng kết hợp với các phương pháp khác.

3.4. Điều kiện cơ sở giao hàng

Điều khoản này qui định những cơ sở có tính nguyên tắc của việc giao nhận hàng giữa bên bán và bên mua, bao gồm:

Sự phân chia giữa bên bán và bên mua các trách nhiệm trong giao nhận hàng: thuê mướn công cụ vận tải, bốc hàng, dỡ hàng, mua bảo hiểm, làm thủ tục hải quan, nộp thuế xuất khẩu, nộp thuế nhập khẩu…

Sự phân chia giữa hai bên các chi phí về giao hàng như chi phí chuyên chở hàng, chi phí bốc hàng, chi phí dỡ hàng, chi phí lưu kho, chi phí mua bảo hiểm, tiền thuế…

Sự di chuyển từ người bán sang người mua những rủi ro và tổn thất về hàng hoá.

3.5. Điều kiện giá cả

Trong giao dịch buôn bán điều kiện giá cả là một điều kiện quan trọng, điều khoản giá cả gồm những vấn để: đồng tiền tính giá, mức giá, phương pháp quy định giá, phương pháp xác định mức giá, cơ sở của giá cả và việc giảm giá.

3.6. Điều kiện giao hàng

Thời hạn giao hàng

Thời hạn giao hàng là thời hạn mà người bán phải hoàn thành nghĩa vụ giao hàng. Nếu các bên giao dịch không có thỏa thuận gì khác, thời hạn này cũng là lúc di chuyển rủi ro và tổn thất về hàng hoá từ người bán sang người mua.

Địa điểm giao hàng

Việc lựa chọn địa điểm giao hàng có liên quan chặt chẽ đến phương thức chuyên chở hàng hoá và đến điều kiện cơ sở giao hàng. Mặc dù nói chung điều kiện cơ sở giao hàng đã xác định rõ địa điểm giao hàng, ví dụ khi thỏa thuận giao hàng theo điều kiện FOB Hải Phòng thì địa điểm giao hàng đã được quy định rồi. Tuy nhiên, có những điều kiện cơ sở giao hàng chỉ xác định cảng đến mà không xác định cảng đi (ví dụ CIF, CFR) hoặc có trường hợp hai bên muốn giành giật hơn nữa lợi thế về mình. Vì thế hai bên có thể còn phải thỏa thuận quy định địa điểm giao hàng.

Phương thức giao hàng

Người ta có thể quy định việc giao nhận được tiến hành ở một nơi nào đó là giao nhận sơ bộ hoặc là giao nhận cuối cùng. Việc giao nhận sơ bộ thường được tiến hành ở ngay địa điểm sản xuất hàng hoá hoặc ở nơi gửi hàng. Việc giao nhận sơ bộ thường có mục đích là bước đầu xem xét hàng hoá, xác định sự phù hợp về số lượng và chất lượng hàng so với quy định trong hợp đồng. Trong khi giao nhận sơ bộ, người mua có quyền đòi hỏi khắc phục khuyết điểm hàng hoá trước khi giao hàng. Việc giao nhận cuối cùng có mục đích xác nhận việc người bán hoàn thành nghĩa vụ giao hàng về các mặt số lượng, chất lượng hàng, thời gian giao hàng. Qua đó hai bên thừa nhận các kết quả kiểm tra hàng hoá đã lấy được ở nơi giao nhận cuối cùng.

Người ta cũng có thể quy định việc giao nhận được tiến hành ở một địa điểm nào đó là việc giao nhận về số lượng hoặc là việc giao nhận về chất lượng.

Thông báo giao hàng

Các điều kiện cơ sở giao hàng đã bao hàm nghĩa vụ về thông báo giao hàng. Nhưng bên cạnh đó, các bên giao dịch vẫn thường thỏa thuận thêm về nghĩa vụ thông báo giao hàng. Trong khi thỏa thuận về việc này, người ta thường quy định về số lần thông báo giao hàng và những nội dung cần được thông báo. 

Trước khi giao hàng thường có những thông báo của người bán về việc hàng đã sẵn sàng để giao hoặc về ngày đem hàng ra cảng (ga) để giao, của người mua về những điểm hướng dẫn người bán trong việc gửi hàng hoặc về chi tiết của tàu đến nhận hàng.

Sau khi giao hàng, người bán phải thông báo tình hình hàng đã giao và kết quả việc giao hàng đó. Nhiều khi người ta còn quy định việc thông báo trước khi tàu vào cảng dỡ hàng.

Những quy định khác về việc giao hàng

Ngoài những vấn đề nêu trên, trong điều kiện giao dịch, căn cứ vào nhu cầu của bên mua, vào khả năng của bên bán và vào những đặc điểm của hàng hoá, người ta có những quy định đặc biệt như: 

Đối với những hàng hoá có khối lượng lớn, người ta có thể quy định “cho phép giao hàng từng đợt” (partial shipment allowed) hoặc buộc phải “giao một lần” (total shipment). 

Nếu trên dọc đường đi cần phải thay đổi phương tiện vận chuyển, người ta có thể quy định “cho phép chuyển tải” (transhipment allowed).

Nếu cảng gửi hàng ở gần cảng đến, khi hành trình của giấy tờ lại chậm hơn hành trình của hàng hoá, người ta có thể quy định “vận đơn đến chậm được chấp nhận” (Stale bill of lading acceptable).

3.7. Điều kiện khiếu nại

Khiếu nại là việc một bên yêu cầu bên kia phải giải quyết những tổn thất hoặc thiệt hại mà bên kia đã gây ra, hoặc về những sự vi phạm điều đã được cam kết giữa hai bên. Trong buôn bán quốc tế, về cơ bản những khiếu nại xoay quanh việc hàng giao không đúng số lượng, chất lượng như đã thỏa thuận, việc chứng từ do người bán xuất trình không phù hợp với tình hình thực tế giao hàng và việc người bán chậm giao hàng. 

Nội dung cơ bản của điều kiện khiếu nại bao gồm các vấn đề: thể thức khiếu nại, thời hạn khiếu nại, quyền hạn và nghĩa vụ của các bên có liên quan đến việc khiếu nại, cách thức giải quyết khiếu nại.

3.9. Điều kiện bảo hành

Bảo hành là sự bảo đảm của người bán về chất lượng hàng hoá trong một thời gian nhất định. Thời hạn này gọi là thời hạn bảo hành – thời hạn dành cho người mua phát hiện những khuyết tật của hàng hoá. 

Trong điều kiện bảo hành, người ta thường thỏa thuận về phạm vi bảo đảm của hàng hoá, thời hạn bảo hành và trách nhiệm của người bán trong thời hạn bảo hành.

3.10. Điều kiện về trường hợp miễn trách

Trong giao dịch trên thị trường thế giới, người ta thường quy định những trường hợp mà, nếu xảy ra, bên đương sự được hoàn toàn hoặc trong chừng mực nào đó miễn hay hoãn thực hiện các nghĩa vụ của hợp đồng. Những trường hợp như vậy thường xảy ra sau khi ký hợp đồng, có tính chất khách quan và không thể khắc phục được. Những điều khoản nói về những trường hợp như vậy thường có tên là “trường hợp bất khả kháng” hoặc “trường hợp miễn trách nhiệm”. 

Những trường hợp bất khả kháng có thể chia ra làm hai loại: 

  • Loại có thời hạn dài thường là các trường hợp như cấm xuất khẩu hoặc cấm nhập khẩu, chiến tranh, phong toả, quản chế ngoại tệ…
  • Loại có thời hạn ngắn thường là các trường hợp như hoả hoạn, thiên tai, đóng cửa các kênh lạch ở cảng, đi chệch đường vì chiến tranh…
Categories
Main

Cơ sở lý luận về phát triển nguồn nhân lực trong doanh nghiệp

Nhanlamluanvan.com xin chia sẻ đến bạn nội dung cơ sở lý luận về phát triển nguồn nhân lực trong doanh nghiệp. Nếu bạn đang làm luận văn hoặc tiểu luận về chủ đề này, đừng bỏ qua bài viết này nhé.

Cơ sở lý luận về phát triển nguồn nhân lực trong doanh nghiệp

>>> Xem thêm: Hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh của doanh nghiệp

1. Khái niệm về phát triển nguồn nhân lực

Để tìm hiểu về khái niệm phát triển nguồn nhân lực thì trước tiên phải hiểu khái niệm nguồn nhân lực: 

Theo nghĩa tương đối hẹp, nguồn nhân lực được hiểu là nguồn lao động. Do vậy nó có thể lượng hóa được là một bộ phận của dân số bao gồm những người trong độ tuổi lao động, đủ từ 15 tuổi trở lên có khả năng lao động hay còn gọi là lực lượng lao động. 

Theo nghĩa rộng, nguồn nhân lực được hiểu như nguồn lực con người của một quốc gia, một vùng lãnh thổ, một bộ phận của các nguồn lực có khả năng huy động tổ chức để tham gia vào quá trình phát triển kinh tế – xã hội bên cạnh nguồn lực tài chính, nguồn lực vật chất. 

Ở góc độ doanh nghiệp thì nguồn nhân lực là lực lượng lao động, là tất cả các thành viên đang tham gia hoạt động cho doanh nghiệp, do doanh nghiệp trả lương. Chính vì vậy nguồn nhân lực được nghiên cứu trên góc độ số lượng và chất lượng. Trong đó: 

– Số lượng nguồn nhân lực được biểu hiện thông qua các chỉ tiêu quy mô, tốc độ tăng và sự phân bổ nguồn nhân lực. 

– Chất lượng nguồn nhân lực được nghiên cứu trên các khía cạnh về trí lực, thể lực và nhân cách, thẩm mỹ của người lao động. 

Tóm lại, nguồn lực con người là tổng thể tiềm năng của con người trong đó trí lực, thể lực và đạo đức là những yếu tố quan trọng quyết định chất lượng và sức mạnh của nguồn nhân lực. 

Cũng như khái niệm “nguồn nhân lực”, khái niệm “phát triển nguồn nhân lực” ngày càng được hoàn thiện và được tiếp cận theo những góc độ khác nhau. Đứng trên quan điểm xem “con người là nguồn gốc – vốn nhân lực”, Yoshihara Kunio cho rằng “Phát triển nguồn nhân lực là các hoạt động đầu tư nhằm tạo ra nguồn nhân lực với số lượng và chất lượng đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế – xã hội của đất nước, đồng thời đảm bảo sự phát triển của mỗi cá nhân”.

Theo quan điểm sử dụng năng lực con người của Tổ chức quốc tế về lao động thì phát triển nguồn nhân lực bao hàm không chỉ sự chiếm lĩnh trình độ lành nghề, mà bên cạnh phát triển năng lực, là làm cho con người có nhu cầu sử dụng năng lực đó để tiến đến có được việc làm hiệu quả cũng như thỏa mãn nghề nghiệp và cuộc sống cá nhân.

2. Đặc điểm của phát triển nguồn nhân lực trong doanh nghiệp

Thứ nhất, nguồn nhân lực trong doanh nghiệp là một bộ phận trong tổng thể nguồn nhân lực của một quốc gia, vùng lãnh thổ. Vì vậy phát triển nguồn nhân lực của doanh nghiệp phải đặt trong mối quan hệ biện chứng với sự phát triển nguồn nhân lực quốc gia, vùng lãnh thổ và chịu ảnh hưởng của chính sách, chiến lược phát triển nguồn nhân lực của quốc gia, vùng lãnh thổ.

Thứ hai, nguồn nhân lực của doanh nghiệp không phải chỉ là phép cộng giản đơn khả năng lao động riêng rẽ của từng con người mà nó phụ thuộc vào khả năng làm việc theo từng nhóm người trong tổ chức. Nghĩa là, phát triển nguồn nhân lực trong doanh nghiệp không chỉ nâng cao khả năng lao động của từng cá nhân, thể hiện ở chất lượng lao động, mà phải phát triển và hoàn thiện các yếu tố nâng cao khả năng làm việc theo nhóm giữa những con người đó như bố trí phù hợp công việc, sở trường, chế độ đãi ngộ phù hợp, môi trường làm việc được cải thiện… 

Thứ ba, phát triển nguồn nhân lực trong doanh nghiệp gắn liền với mục tiêu của doanh nghiệp và phải được hoạch định từ mục tiêu của doanh nghiệp. Vì vậy, phát triển nguồn nhân lực trong doanh nghiệp phải xuất phát từ mục tiêu, chiến lược của doanh nghiệp và hướng giải quyết mục tiêu đó. 

Thứ tư, nguồn nhân lực trong doanh nghiệp là một nguồn lực bên cạnh các nguồn lực khác là vốn, công nghệ… nhưng khác với các nguồn lực khác về tính chất và vai trò của nó đối với doanh nghiệp đó là nó mang bản chất con người nên chịu sự chi phối của các yếu tố tâm sinh lý, quá trình sử dụng nó sẽ tạo ra giá trị lớn hơn giá trị bản thân nó, đồng thời nó đóng vai trò quyết định trong việc sử dụng có hiệu quả các nguồn lực khác của doanh nghiệp. 

Thứ năm, nếu như quản trị nguồn nhân lực có mục tiêu là tối ưu hóa kết quả của doanh nghiệp và cá nhân người lao động, đó là hiệu quả kinh tế cao đối với doanh nghiệp và thoả mãn nhu cầu của người lao động ngày càng tốt hơn, thì phát triển nguồn nhân lực là phát triển năng lực nhân lực, nâng cao khả năng lao động mà doanh nghiệp có thể huy động được để hoàn thành các nhiệm vụ và mục tiêu của doanh nghiệp. Điều này có nghĩa là, phát triển nguồn nhân lực chính là điều kiện cần và quản trị nguồn nhân lực là điều kiện đủ để có được nguồn lực lao động và sử dụng chúng có hiệu quả để đạt được mục tiêu mà doanh nghiệp đã đặt ra. 

3. Các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển nguồn nhân lực trong doanh nghiệp

3.1. Các nhân tố bên ngoài doanh nghiệp

Môi trường vĩ mô bao gồm các nhân tố nằm bên ngoài doanh nghiệp, tạo ra các cơ hội và nguy cơ đối với doanh nghiệp. Đối với phát triển nguồn nhân lực trong doanh nghiệp, các nhân tố chủ yếu là môi trường kinh tế; pháp luật về lao động và thị trường lao động; khoa học công nghệ và các nhân tố văn hoá, xã hội của quốc gia. 

Môi trường kinh tế bao gồm các nhân tố như tốc độ tăng trưởng kinh tế, suy thoái hay lạm phát, thu nhập, mức sống, tốc độ đầu tư, dân số… có ảnh hưởng trực tiếp đến nhu cầu nhân lực và chính sách của doanh nghiệp đối với nguồn nhân lực. Điều này sẽ tạo cơ hội hoặc áp lực cho công tác phát triển nguồn nhân lực của doanh nghiệp. 

Pháp luật về lao động và thị trường lao động tác động đến cơ chế và chính sách trả lương của doanh nghiệp, dẫn đến sự thay đổi về mức độ thu hút nguồn nhân lực của các doanh nghiệp. Chính vì vậy, phát triển nguồn nhân lực tại doanh nghiệp phải được thực hiện phù hợp với pháp luật về lao động và thị trường lao động. 

Khoa học công nghệ phát triển làm xuất hiện những ngành nghề mới, đòi hỏi nhân viên phải được cập nhật kiến thức và những kỹ năng mới, làm phát sinh nhu cầu đào tạo lại, bố trí, sắp xếp nhân lực phù hợp với tình hình mới. Do đó, phát triển NNL trong doanh nghiệp càng trở nên bức bách hơn, cần phải có kế hoạch và chiến lược cụ thể nhằm giải quyết triệt để các yêu cầu khách quan của tình hình mới.

Các nhân tố văn hoá, xã hội của quốc gia có tác động lớn đến tâm lý, hành vi, phong cách, lối sống và sự thay đổi trong cách nhìn nhận về các giá trị của người lao động. Và như vậy, nó ảnh hưởng đến cách tư duy và các chính sách phát triển nguồn nhân lực nhằm phát huy cao độ những nhân tố tích cực, đồng thời khắc phục những mặt tiêu cực trong tác phong lao động của nguồn nhân lực tại doanh nghiệp. 

Điều kiện tự nhiên, nhân tố này ảnh hưởng đến thể hình, thể chất và thể lực của nguồn nhân lực. Người dân Châu Á mà đặc biệt là các nước Đông Nam Á, trong đó có Việt Nam đa số có thể hình và thể lực kém phát triển so với các khu vực khác trên thế giới. Trong điều kiện đặc điểm của ngành môi trường đòi hỏi nguồn nhân lực phải đáp ứng tốt về mặt thể lực, thì trong các nội dung phát triển nguồn nhân lực cần chú trọng hơn nữa các biện pháp nâng cao thể hình và thể lực của nguồn nhân lực.

Các nhân tố thuộc môi trường vi mô như: Khả năng cung ứng nhân lực của các cơ sở đào tạo, việc cạnh tranh thu hút nhân lực của doanh nghiệp trong cùng ngành. Khả năng cung ứng của các cơ sở đào tạo là một trong những nguồn cung cấp lao động rất quan trọng cho các doanh nghiệp, khả năng này cao hay thấp trực tiếp ảnh hưởng đến mức độ dư thừa hay khan hiếm nguồn nhân lực trong các thời kỳ khác nhau. Ngoài ra, chất lượng của các cơ sở đào tạo cũng phải được xem xét kỹ lưỡng vì nó sẽ quyết định chất lượng nguồn nhân lực của doanh nghiệp trong tương lai. 

Cạnh tranh thu hút nhân lực của doanh nghiệp trong cùng ngành tác động mạnh đến số lượng và chất lượng nguồn nhân lực của mỗi doanh nghiệp. Nó tạo ra sự di chuyển nguồn nhân lực từ doanh nghiệp này đến doanh nghiệp khác, đặc biệt là nguồn nhân lực chất lượng cao. Bởi lẽ, các yêu cầu về nguồn nhân lực của các doanh nghiệp trong cùng ngành luôn có sự tương đồng. 

Khách hàng là mục tiêu của mọi doanh nghiệp. Duy trì được những khách hàng tiềm năng sẽ giúp cho các doanh nghiệp đảm bảo được sự ổn định và phát triển của họ. Chất lượng và giá cả của sản phẩm sẽ đảm bảo được vị trí của doanh nghiệp trong thị trường. Tóm lại khách hàng là trọng tâm của mọi hoạt động sản xuất kinh doanh và các nhà quản trị doanh nghiệp phải làm sao cho chất lượng nguồn nhân lực của mình tạo ra được những sản phẩm luôn thỏa mãn được yêu cầu của khách hàng.

3.2. Các nhân tố bên trong doanh nghiệp

Chính sách thu hút nguồn nhân lực: 

Chính sách thu hút nguồn nhân lực thể hiện quan điểm về mục đích, yêu cầu, đối tượng và cách thức tuyển chọn lao động của doanh nghiệp nhằm đảm bảo cho doanh nghiệp có đủ số lượng và chất lượng nguồn nhân lực với cơ cấu phù hợp để thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ của mình trong giai đoạn hiện tại hay tương lai. 

Một doanh nghiệp có chính sách thu hút nguồn nhân lực phù hợp và hấp dẫn, xuất phát từ việc hoạch định nguồn nhân lực chính xác và khoa học, sẽ thu hút được nhiều người đảm bảo chất lượng hơn, tức là nhân lực có chất lượng ban đầu cao hơn. Điều này góp phần tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển nguồn nhân lực tại doanh nghiệp. Bên cạnh đó, nó cũng ảnh hưởng trực tiếp đến các yêu cầu và cách thức phát triển nguồn nhân lực của doanh nghiệp. 

Chế độ bố trí, sử dụng nguồn nhân lực: 

Chế độ bố trí, sử dụng nguồn nhân lực là một trong những nhân tố quan trọng tác động đến phát triển nguồn nhân lực trong doanh nghiệp. 

Phân công đúng người, đúng việc, đánh giá đúng tính chất và mức độ tham gia, đóng góp của từng người lao động để khích lệ, đãi ngộ họ kịp thời sẽ mang lại mức độ sinh lợi cao của hoạt động chung và tạo ra sự động viên to lớn đối với người lao động. 

Khi doanh nghiệp có cách sử dụng nhân lực như vậy thì người lao động không chỉ thể hiện, cống hiến tối đa những phẩm chất lao động sẵn có mà còn tự đầu tư, tự tổ chức học tập không ngừng nâng cao trình độ chuyên môn của mình. Nó tạo động lực vững chắc cho phát triển nguồn nhân lực trong doanh nghiệp. 

Chính sách đào tạo và đào tạo lại:

Chính sách đào tạo và đào tạo lại là vấn đề cốt lõi có tác động trực tiếp và mạnh mẽ đến phát triển nguồn nhân lực tại doanh nghiệp dưới góc độ nâng cao chất lượng nguồn nhân lực một cách toàn điện. Nó giúp người lao động hiểu rõ hơn về công việc, nắm vững hơn về nghề nghiệp từ đó thực hiện chức năng nhiệm vụ của mình một cách tự giác hơn, với thái độ tốt hơn, cũng như nâng cao khả năng thích ứng của họ với các công việc tương lai trong bối cảnh khoa học công nghệ phát triển nhanh hơn bao giờ hết. Đây chính là nền tảng để phát triển nguồn nhân lực trong doanh nghiệp. 

Chế độ đào tạo và đào tạo lại cần phải được thực hiện một cách khoa học, có tổ chức và có kế hoạch. Nhất thiết phải chọn đúng người, đúng nội dung, đúng phương pháp đào tạo, đúng phương pháp đánh giá hiệu quả đào tạo và phải đầu tư kinh phí hợp lý thì mới thật sự phát huy tác dụng. Từ đó người lao động có động cơ học tập đúng đắn và mạnh mẽ, thúc đẩy họ thật sự học tập để nâng cao trình độ. Như vậy, chất lượng nhân lực của doanh nghiệp được nâng cao theo thời gian. 

Chế độ đãi ngộ:

Các chế độ đãi ngộ về vật chất và tinh thần đối với người lao động là một trong những nhân tố để duy trì và phát triển nguồn nhân lực trong doanh nghiệp. Nó có ảnh hưởng rất lớn đến sự lựa chọn công việc, tình hình thực hiện công việc, chất lượng sản phẩm, hiệu quả hoạt động của nguồn nhân lực trong doanh nghiệp. 

Khi xây dựng các chế độ đãi ngộ cần xem xét đồng thời các mục tiêu sau: 

– Hệ thống đãi ngộ phải hợp pháp; thỏa đáng, công bằng và phải có tác dụng kích thích người lao động hoàn thành công việc có hiệu quả cao. 

– Hệ thống đãi ngộ phải bảo đảm hiệu quả: đòi hỏi doanh nghiệp phải quản lý hệ thống đãi ngộ một cách hiệu quả và phải có những nguồn tài chính để hỗ trợ cho hệ thống đó được thực hiện trong thời gian dài, xuyên suốt, ngày một tốt hơn. 

Môi trường làm việc:

Môi trường làm việc là nhân tố quan trọng để doanh nghiệp có điều kiện thuận lợi hơn trong việc thu hút nguồn nhân lực cho mình, đặc biệt là nguồn nhân lực có chất lượng cao. Một môi trường làm việc chuyên nghiệp, thân thiện, mọi người đều yêu thích công việc, nhìn thấy sự phát triển nghề nghiệp trong tương lai thì sẽ gắn bó được nhân viên, là cơ hội rất tốt để nhân viên khẳng định và phát triển tối đa năng lực làm việc, học tập nâng cao trình độ của mình phục vụ thiết thực cho các yêu cầu của doanh nghiệp. 

Văn hóa doanh nghiệp là toàn bộ các giá trị văn hóa được xây dựng trong suốt quá trình tồn tại và phát triển doanh nghiệp, trở thành các giá trị, các quan niệm và tập quán, truyền thống ăn sâu vào hoạt động của doanh nghiệp; chi phối tình cảm, suy nghĩ và hành vi của mỗi thành viên trong doanh nghiệp; tạo nên sự khác biệt giữa các doanh nghiệp và được coi là truyền thống riêng của mỗi doanh nghiệp. Chính những nhân tố khác biệt và truyền thống riêng của văn hóa doanh nghiệp sẽ là động lực thúc đẩy sự thành công của mỗi doanh nghiệp. 

Tài chính:

Như chúng ta đã nghiên cứu, tài chính là một trong những nhân tố cơ bản nhất cho sự tồn tại và phát triển của một doanh nghiệp. Nó là điều kiện tiên quyết để đảm bảo cho việc thực thi các hoạt động phát triển nguồn nhân lực trong doanh nghiệp. Thật vậy, cho dù doanh nghiệp đã xây dựng được những kế hoạch đào tạo, chế độ đãi ngộ…thật hấp dẫn, thuyết phục nhưng thiếu vắng nguồn lực tài chính thì chúng vẫn dừng lại trong ý tưởng mà thôi. Chính vì vậy, phát triển nguồn nhân lực trong doanh nghiệp cần phải được xem xét phù hợp với năng lực tài chính của doanh nghiệp ấy. 

Công nghệ:

Trình độ công nghệ hiện tại và trong tương lai của doanh nghiệp cũng là nhân tố ảnh hưởng trực tiếp đến phát triển nguồn nhân lực trong doanh nghiệp. Nó đặt ra những yêu cầu cần phải được đảm bảo về số lượng và chất lượng của nguồn nhân lực trong doanh nghiệp. Nghĩa là, công nghệ như thế nào thì người lao động phải có trình độ chuyên môn, kỹ năng và tác phong lao động tương ứng với nó. Như vậy, phát triển nguồn nhân lực phải phù hợp với công nghệ sản xuất đang được áp dụng và những dự kiến thay đổi công nghệ trong tương lai của doanh nghiệp.

Categories
Main

Những vấn đề chung về tranh chấp đất đai và giải quyết tranh chấp đất đai

Trong bài viết này, nhanlamluanvan.com xin chia sẻ đến bạn những vấn đề chung về tranh chấp đất đai và giải quyết tranh chấp đất đai.

Những vấn đề chung về tranh chấp đất đai và giải quyết tranh chấp đất đai

>>> Xem thêm: Những vấn đề lý luận về hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất

1. Tranh chấp đất đai

1.1. Khái niệm

Tranh chấp đất đai, hiểu theo nghĩa rộng là biểu hiện sự mâu thuẫn, bất đồng trong việc xác định quyền quản lý, quyền chiếm hữu, quyền sử dụng đối với đất đai, phát sinh trực tiếp hoặc gián tiếp trong lĩnh vực quản lý và sử dụng đất đai.  

Theo nghĩa hẹp, tranh chấp đất đai là tranh chấp phát sinh giữa các chủ thể tham gia quan hệ pháp luật đất đai về quyền và nghĩa vụ trong quá trình quản lý và sử dụng đất đai [43, tr. 245]. 

Trong thực tế, tranh chấp đất đai được hiểu là sự tranh chấp về quyền quản lý, quyền sử dụng xung quanh một khu đất cụ thể mà mỗi bên đều cho rằng mình phải được quyền đó do pháp luật quy định và bảo hộ. Vì vậy, họ không thể cùng nhau tự giải quyết các tranh chấp đó mà phải yêu cầu cơ quan có thẩm quyền phân xử (giải quyết).

1.2. Phân loại 

– Tranh chấp hợp đồng chuyển đổi quyền sử dụng đất: 

Dạng tranh chấp này thường xảy ra ở vùng nông thôn, việc phát sinh thường là do lúc chuyển đổi đất đai hai bên không làm hợp đồng hoặc hợp đồng có được soạn thảo nhưng nội dung rất sơ sài, đơn giản. Vì thế, sau một thời gian một bên cảm thấy quyền lợi bị thiệt thòi nên phát sinh tranh chấp, mặc dù vào thời điểm chuyển đổi hai bên đều đã nhất trí về các điều kiện để chuyển đổi quyền sử dụng đất. 

– Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất: 

Dạng tranh chấp này xảy ra khá phổ biến, việc phát sinh thường là do một bên hoặc cả hai bên thực hiện không đúng giao kết như không trả tiền hoặc không giao đất, cũng có trường hợp do bị lừa dối hoặc sau khi ký kết hợp đồng thấy bị hớ trong điều khoản thỏa thuận về giá cả nên rút lại không thực hiện hợp đồng. Nhiều trường hợp nội dung hợp đồng không đề cập rõ ràng về mục đích của hợp đồng, không xác định cụ thể bên bán hay bên mua có nghĩa đóng thuế chuyển quyền sử dụng đất, làm thủ tục… đây cũng là nguyên nhân dẫn đến tranh chấp. 

– Tranh chấp hợp đồng cho thuê quyền sử dụng đất: 

Việc phát sinh dạng tranh chấp này là do một bên hoặc cả hai bên vi phạm các điều khoản của hợp đồng như: 

  • Hết thời hạn thuê đất nhưng không chịu trả lại đất cho bên cho thuê; 
  • Không trả tiền thuê đất; 
  • Sử dụng đất không đúng mục đích khi thuê; 
  • Đòi lại đất trước thời hạn hợp đồng. 

– Tranh chấp hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất: 

Dạng tranh chấp này thường phát sinh sau khi thời hạn thực hiện nghĩa vụ đã hết, nhưng bên vay đã không thực hiện nghĩa vụ trả nợ đã cam kết. 

– Tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất: 

Dạng tranh chấp này thường xảy ra do các nguyên nhân chủ yếu sau: 

Người có quyền sử dụng đất chết không để lại di chúc và những người thừa kế theo pháp luật không thỏa thuận được với nhau về việc phân chia di sản thừa kế hoặc không hiểu biết về các quy định của pháp luật thừa kế, nên dẫn đến việc phát sinh tranh chấp. 

Người sử dụng đất trước khi chết có lập di chúc để lại thừa kế quyền sử dụng đất nhưng di chúc đó trái pháp luật. 

– Tranh chấp do lấn, chiếm đất: 

Loại tranh chấp này xảy ra do một hoặc cả hai bên đã chiếm dụng đất của nhau. Có trường hợp trước đây khi thi hành chính sách cải tạo nông nghiệp, Nhà nước đã giao đất cho người khác sử dụng, nay chủ cũ tự động chiếm lại đất canh tác và dẫn đến tranh chấp. 

– Tranh chấp về cản trở việc thực hiện quyền sử dụng đất:

Loại tranh chấp này tuy số lượng tranh chấp phát sinh ít nhưng tính chất lại rất phức tạp. Thông thường, do mâu thuẫn phát sinh, bên sử dụng đất ở gần lối đi công cộng có vị trí đất ở sâu hoặc xa mặt tiền và một bên do có thành kiến cá nhân đã cản trở người sử dụng đất bên trong việc thực hiện quyền sử dụng đất như không cho đi qua phần đất của mình, rào lại lối đi chung v.v… do đó dẫn đến tranh chấp. 

Ngoài ra, còn tồn tại một số dạng tranh chấp đất đai cụ thể trên thực tế như: 

  • Tranh chấp về việc làm thiệt hại đến việc sử dụng đất; 
  • Tranh chấp quyền sử dụng đất; 
  • Tranh chấp tài sản gắn liền với đất; 
  • Tranh chấp đất trong vụ án ly hôn.

1.3. Đặc điểm

Quan hệ đất đai là một dạng đặc biệt của quan hệ dân sự nên bên cạnh những đặc điểm chung của một tranh chấp dân sự, tranh chấp đất đai còn mang những đặc điểm đặc trưng riêng khác với các tranh chấp dân sự, tranh chấp lao động, tranh chấp kinh tế… Sự khác biệt đó thể hiện ở những điểm chủ yếu sau đây: 

Thứ nhất, chủ thể của tranh chấp đất đai chỉ có thể là chủ thể của quyền quản lý và quyền sử dụng đất mà không phải là chủ thể của quyền sở hữu đất đai. Quyền sử dụng đất của các chủ thể được xác lập dựa trên quyết định giao đất, cho thuê đất của Nhà nước hoặc được Nhà nước cho phép nhận chuyển nhượng từ các chủ thể khác hoặc được Nhà nước thừa nhận quyền sử dụng đất hợp pháp đối với diện tích đất đang sử dụng. Như vậy, chủ thể của tranh chấp đất đai là các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân tham gia với tư cách là người quản lý hoặc người sử dụng đất. 

Thứ hai, nội dung của tranh chấp đất đai rất đa dạng và phức tạp. Hoạt động quản lý và sử dụng đất trong nền kinh tế thị trường diễn ra rất đa dạng, phong phú với việc sử dụng đất vào nhiều mục đích khác nhau, với diện tích, nhu cầu sử dụng khác nhau. Trong nền kinh tế thị trường, việc quản lý và sử dụng đất không đơn thuần chỉ là việc quản lý và sử dụng một tư liệu sản xuất. Đất đai đã trở thành một loại hàng hóa đặc biệt, có giá trị thương mại, giá đất lại biến động theo quy luật cung cầu trên thị trường, nên việc quản lý và sử dụng nó không đơn thuần chỉ là việc khai thác giá trị sử dụng mà còn bao gồm cả giá trị sinh lời của đất (thông qua các hành vi kinh doanh quyền sử dụng đất). Tất nhiên, khi nội dung quản lý và sử dụng đất phong phú và phức tạp hơn thì những mâu thuẫn, bất đồng xung quanh việc quản lý và sử dụng đất đai cũng trở nên gay gắt và trầm trọng hơn. 

Thứ ba, tranh chấp đất đai phát sinh gây hậu quả xấu về nhiều mặt như: Có thể gây mất ổn định về chính trị, phá vỡ mối quan hệ xã hội, làm mất đoàn kết trong nội bộ nhân dân, phá vỡ trật tự quản lý đất đai, gây đình trệ sản xuất, ảnh hưởng trực tiếp đến lợi ích không những của bản thân các bên tranh chấp mà còn gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước và xã hội. 

Thứ tư, đối tượng của tranh chấp đất đai là quyền quản lý và quyền sử dụng đất. Đất đai là loại tài sản đặc biệt không thuộc quyền sở hữu của các bên tranh chấp mà thuộc quyền sở hữu của Nhà nước.

2. Giải quyết tranh chấp đất đai

2.1. Khái niệm giải quyết tranh chấp đất đai

Theo Từ điển giải thích thuật ngữ luật học: “Giải quyết tranh chấp đất đai là giải quyết bất đồng, mâu thuẫn trong nội bộ nhân dân, tổ chức và trên cơ sở đó phục hồi các quyền lợi hợp pháp bị xâm hại đồng thời truy cứu trách nhiệm pháp lý đối với hành vi vi phạm pháp luật về đất đai” [42]. 

Trong quan hệ pháp luật đất đai, việc xem xét giải quyết tranh chấp đất đai là một trong những biện pháp quan trọng để pháp luật đất đai phát huy được vai trò trong đời sống xã hội. Thông qua việc giải quyết tranh chấp đất đai, Nhà nước điều chỉnh các quan hệ đất đai cho phù hợp với lợi ích của Nhà nước và của xã hội. Đồng thời, giáo dục ý thức tuân thủ và tôn trọng pháp luật cho mọi công dân, ngăn ngừa những vi phạm pháp luật có thể xảy ra. 

Giải quyết tranh chấp đất đai, với ý nghĩa là một nội dung của chế độ quản lý nhà nước đối với đất đai, được hiểu là hoạt động của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền, nhằm tìm ra các giải pháp đúng đắn trên cơ sở pháp luật, nhằm giải quyết các bất đồng, mâu thuẫn giữa các bên, khôi phục lại quyền lợi cho bên bị xâm hại. Đồng thời xử lý đối với các hành vi vi phạm pháp luật đất đai.

Như vậy, giải quyết tranh chấp đất đai là việc vận dụng đúng đắn các quy định của pháp luật để bảo vệ tốt nhất các quyền và lợi ích hợp pháp của người sử dụng đất.

2.2. Các nguyên tắc giải quyết tranh chấp đất đai

2.2.1. Nguyên tắc đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước thống nhất quản lý 

Điều 17 Hiến pháp 1992 khẳng định: “Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước thống nhất quản lý”. Cụ thể hóa Hiến pháp 1992, Luật Đất đai 2003 đã quy định: “Nhà nước không thừa nhận việc đòi lại đất đã giao cho người khác sử dụng trong quá trình thực hiện các chính sách đất đai của Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam và Nhà nước Cộng hòa xã hội Chủ nghĩa Việt Nam”. Điều đó khẳng định toàn bộ đất đai trên lãnh thổ Việt Nam đều thuộc quyền sở hữu toàn dân do Nhà nước thống nhất quản lý. Các tổ chức, hộ gia đình và cá nhân chỉ là những người được Nhà nước giao đất cho sử dụng chứ không có quyền sở hữu đối với đất đai. Do đó, đối tượng của mọi tranh chấp đất đai phát sinh chỉ là quyền quản lý và quyền sử dụng đất chứ không phải là quyền sở hữu đối với đất đai. Vì vậy, khi giải quyết các tranh chấp đất đai, phải tôn trọng và bảo vệ quyền sở hữu toàn dân đối với đất đai mà Nhà nước là người đại diện; bảo vệ quyền đại diện sở hữu đất đai của Nhà nước; bảo vệ thành quả cách mạng về đất đai mà nhân dân ta đã giành được. 

2.2.2. Nguyên tắc bảo đảm lợi ích của người sử dụng đất, nhất là lợi ích kinh tế, khuyến khích việc tự thương lượng, tự hòa giải trong nội bộ nhân dân 

Luật Đất đai 1993 ra đời với việc thừa nhận năm quyền năng của người sử dụng đất (quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, thừa kế, thế chấp quyền sử dụng đất) đã khẳng định tư tưởng đổi mới trong quá trình Nhà nước điều hành các quan hệ xã hội về đất đai. Do đó, việc tôn trọng các quyền của người sử dụng đất và tạo điều kiện để họ phát huy tối đa các quyền đó là nguyên tắc quan trọng của Luật Đất đai. Thực tế đã chứng minh rằng, nếu lợi ích của người sử dụng đất không được đảm bảo, thì việc sử dụng đất không thể mang lại hiệu quả kinh tế cao. Đó cũng chính là nguyên tắc cơ bản trong quá trình giải quyết các tranh chấp đất đai.

Tôn trọng quyền định đoạt của các chủ thể khi tham gia các quan hệ pháp luật đất đai là tôn trọng quyền tự do thỏa thuận, thương lượng của họ trên cơ sở các quy định của pháp luật. Do vậy, hòa giải trở thành cách thức và cũng là nguyên tắc giải quyết tranh chấp đất đai quan trọng và đạt hiệu quả nhất. 

2.2.3. Nguyên tắc giải quyết tranh chấp đất đai phải nhằm mục đích ổn định tình hình chính trị, kinh tế, xã hội, gắn việc giải quyết tranh chấp đất đai với việc tổ chức lại sản xuất, bố trí lại cơ cấu sản xuất hàng hóa 

Do ảnh hưởng tiêu cực của tranh chấp đất đai đến mọi mặt của đời sống chính trị, kinh tế, xã hội nên việc giải quyết các tranh chấp đất đai phải nhằm vào mục đích bình ổn các quan hệ xã hội. Chú ý đảm bảo quá trình sản xuất của người dân, tránh làm ảnh hưởng dây chuyền đến cơ cấu sản xuất chung. Đồng thời cải thiện và bố trí, sắp xếp lại cơ cấu sản xuất hàng hóa theo chủ trương của Đảng: “Ai giỏi nghề gì, làm nghề ấy”. 

2.2.4. Nguyên tắc đảm bảo pháp chế xã hội chủ nghĩa 

Khi giải quyết tranh chấp đất đai phải chú ý và tuân thủ các nguyên tắc, trình tự, thủ tục, thẩm quyền mà pháp luật đã quy định. Phát hiện và giải quyết kịp thời các phạm pháp luật về đất đai, tránh tình trạng để tranh chấp đất đai kéo dài, làm ảnh hưởng tới tâm lý và lợi ích của người dân.

Categories
Main

Tổng hợp các phương pháp định giá doanh nghiệp

Trong bài viết này, nhanlamluanvan.com xin chia sẻ đến bạn các phương pháp định giá doanh nghiệp.

Các phương pháp định giá doanh nghiệp

>>> Xem thêm: Một số lý luận về du lịch sinh thái

Hiện nay, trên thế giới có rất nhiều phương pháp định giá được áp dụng. Dựa trên những cơ sở khác nhau mà người ta đưa ra những phương pháp khác nhau. Căn cứ vào đó, các phương pháp định giá có thể được chia thành 2 nhóm: nhóm phương pháp định giá doanh nghiệp dựa trên cơ sở lợi nhuận và nhóm phương pháp định giá doanh nghiệp dựa trên cơ sở thị trường.

1. Nhóm phương pháp định giá doanh nghiệp dựa trên cơ sở lợi nhuận

Nhóm phương pháp định giá này dựa trên quan điểm cho rằng giá trị doanh nghiệp không đơn thuần là tổng số giá trị các tài sồn hiện có của doanh nghiệp mà nó là tổng hợp các giá trị kinh tế được đo bằng khả năng sinh lợi của doanh nghiệp trong tương lai vì lợi nhuận luôn là mục tiêu quan trọng đối với doanh nghiệp cũng như với các nhà đầu tư. 

Nhóm phương pháp này gồm 3 phương pháp : 

• Phương pháp chiết khấu dòng tiền 

• Phương pháp chiết khấu luồng cổ tức 

• Phương pháp hệ số giá trên thu nhập ròng của cổ phiếu

1.1. Phương pháp chiết khấu dòng tiền

Nội dung:

Phương pháp DCF dựa trên nguyên lý cơ bồn của tài chính: Giá trị thời gian của tiền tệ. Theo đó, giá trị doanh nghiệp được xác định bằng cách hiện tại hóa các luồng tiền doanh nghiệp dự kiến thu được trong tương lai theo một tỷ lệ chiết khấu tương ứng với mức độ rủi ro của doanh nghiệp. 

Do vậy, trong phương pháp DCF có ba thông số cơ bản nhất cần được xác định, đó là luồng thu nhập công ty sẽ thu về trong tương lai, mức lãi suất chiết khấu luồng thu nhập đó và thời hạn tồn tại dự tính của DN. Đề tính toán được ba thông số cơ bản này cần thực hiện theo một quy trình gồm năm bước. 

Bước 1:  Phân tích ảnh hình hoạt động của doanh nghiệp trong quá khứ

Bước 2: Ước tính ánh hình hoạt động của doanh nghiệp trong tương lai

Bước 3: Xác định tỷ lệ chiết khấu WACC

Bước 4: Ước lượng giá trị liên tục (CV)

Bước 5: Tính toán kết quả và phân tích

Ưu, nhược điểm

• Ưu điểm : 

– DCF phản ánh chính xác hem thu nhập của doanh nghiệp trong tương lai vì DCF sử dụng thông số FCF được xây dựng dựa trên những số liệu có sẵn trong quá khứ và những giả định tương đối có cơ sở. Thêm vào đó, giá trị DCF được điều chỉnh theo mức độ rủi ro thích hợp. 

– Phương pháp DCF có thể áp dụng cho hầu hết các loại hình doanh nghiệp từ doanh nghiệp với tốc độ tăng trưởng rất thấp cho đến doanh nghiệp đa quốc gia có tốc độ tăng trưởng ổn định. 

– Việc áp dụng phương pháp này cũng sẽ giải quyết được một phớn các vướng mắc trong việc xác định lợi thế thương mại của doanh nghiệp, tạo độ chính xác của giá trị doanh nghiệp, đặc biệt là những đơn vị đang làm ăn có lãi, có thương hiệu và thị phần trên thị trường 

Hạn chế:

– Dòng tiền dự đoán của doanh nghiệp trong tương lai không phải lúc nào cũng chính xác vì dự đoán tương lai luôn là một điều khó khăn. 

– Việc xác định tỷ lệ chiết khấu WACC không phải lúc nào cũng dễ dàng (vi dụ như doanh nghiệp mà cổ phiếu của nó không được giao dịch phổ biến trên thị trường thì việc xác định chi phí vốn chủ sở hữu có thể rất khó khăn). 

Đối tượng áp dụng:

Thường được áp dụng rộng rãi đối với những doanh nghiệp có căn cứ đề ước tính được tỉnh hình hoạt động trong tương lai, các công ty đang hoạt động có hiệu quả và khả năng phát triển trong tương lai, đặc biệt là các đơn vị đang hoạt động trong lĩnh vực dịch vụ, bảo hiểm…

1.2. Phương pháp chiết khấu luồng cổ tức

Nội dung:

DDM là phương pháp định giá vốn cổ phần trên cơ sở chiết khấu luồng cổ tức thu được trong tương lai về hiện tại với một tỷ lệ thích hợp tương ứng với mức rủi ro của cổ phiếu đó. 

Ưu, nhược điểm:

Ưu điểm: 

Đơn giản và nhanh chóng hơn phương pháp DCF do chỉ cần dự tính tỉ lệ cổ tức và tốc độ tăng trưởng thay vì ước tính toàn bộ dòng tiền. 

• Hạn chế : 

Già định mà mô hình trên đưa ra không phải lúc nào cũng đúng vì trong thực tế hiếm có doanh nghiệp nào cổ tức lại tăng trưởng với một tỷ lệ nhất định cho đến mãi mãi. 

Đối tượng áp dụng:

Phương pháp này thường được sử dụng để định giá vốn chủ sở hữu của các doanh nghiệp thanh toán cổ tức tương ứng cố định và được mong đợi là không yêu cầu có sự thay đổi quan trọng nào về vốn hóa trong tương lai. Đối với những doanh nghiệp không chi trả cổ tức thì cũng không nên áp dụng mô hình này. 

1.3. Phương pháp hệ số giá thị trường trên thu nhập

Nội dung:

Đây là phương pháp định giá dựa trên khả năng sinh lời của doanh nghiệp và tính toán theo tỷ số giá thị hường trên thu nhập.

Công thức tính: V = Pg*K 

V : Giá trị doanh nghiệp 

Pg : Lợi nhuận có thể giữ lại 

K : Tỷ số giá thị trường trên thu nhập

Ưu, nhược điểm:

Ưu điểm :Đơn giản, dễ tính toán, là phương pháp được sử dụng rộng rãi trong định giá. 

• Hạn chế : Định giá bằng phương pháp này có độ chính xác thấp nhất do: 

– Có thể có rất nhiều những công ty tương tự được niêm yết nên việc chọn lựa một số trong số các công ty này để làm công ty so sánh chủ yếu dựa trên chủ quan của người định giá. Việc thêm vào hay bớt ra số lượng công ty so sánh có thể làm thay đổi đáng kể giá trị của bội số và do đó ảnh hưởng đến giá trị của doanh nghiệp. 

– Mặt khác, nếu thị trường đang đánh giá quá cao tất cả các doanh nghiệp sản xuất trong cùng một ngành dẫn đến tỷ số giá trên thu nhập trung bình của ngành được đánh giá quá cao và do đó việc định giá theo bội số giá trên thu nhập sẽ đánh giá quá cao giá trị của doanh nghiệp. 

Đối tượng áp dụng:

Thường áp dụng đối với các doanh nghiệp đã niêm yết trên thị trường chứng khoán vì có thể dễ dàng xác định được tỷ số P/E của các doanh nghiệp này. 

2. Nhóm phương pháp định giá doanh nghiệp dựa trên cơ sở thị trường

2.1. Phương pháp so sánh

Phương pháp này mang đầy đủ ý nghĩa của việc so sánh dựa trên cơ sở thị trường. Trên cơ sở phân tích số liệu sẵn có của các doanh nghiệp tương tự hoặc nếu không có doanh nghiệp tương tự thì nên sử dụng số liệu trung bình ngành và có sự điều chỉnh thích hợp rồi sau đó áp dụng cho doanh nghiệp cần định giá. Thông thường người ta hay so sánh các tỷ suất hoạt động.

Định giá bằng phương pháp này ngoài việc so sánh với các doanh nghiệp khác trên thị trường còn phải phân tích, nghiên cứu các tỷ suất hoạt động của doanh nghiệp cần định giá trong lịch sử để đàm bào các tỷ suất được dùng để so sánh phù hợp với điều kiện hiện tại của doanh nghiệp.  

2.2. Phương pháp chi phí

Phương pháp chi phí là phương pháp định giá doanh nghiệp trên cơ sở các chi phí bỏ ra để có được doanh nghiệp tương tự. Phương pháp này dựa trên quan điểm cho rằng nhà đầu tư sẽ không bò ra nhiều chi phi hơn để sáng lập một doanh nghiệp tương tự trong điều kiện thị trường mở. 

2.3. Phương pháp định giá theo giá trị tài sản

Nội dung:

Theo phương pháp này, giá trị của một công ty bằng tổng các giá trị của từng loại tài sản riêng biệt trừ đi các khoản nợ của công ty. Do đó, khi định giá phải tuân theo các quy tắc: 

– Định giá đầy đủ tất cả các tài sản của doanh nghiệp. 

– Giá trị tài sản và nguồn vốn được xác định dựa trên giá thị trường. 

– Ư ớ c tính các chi phí thanh lý. 

– Tính đến các khoản nợ thuế, thuế t h u nhập có thể có và các khoản thuế liên quan đến thu nhập từ tài sản thanh lý. 

– Đánh giá chất lượng các tài sản và khả năng bán ra thị trường. 

– Tính đến khoảng thời gian phải chờ cho đến khi có thể thu được hết các khoản tiền thanh lý. 

Ưu, nhược điểm:

– Đơn giản, dễ tính toán vì nó phản ánh tương đối đầy đủ và trực quan giá trị các tài sản hiện có của doanh nghiệp theo mức giá thị trường. 

– Tốn ít thời gian và chi phí. 

• Nhược điểm 

– Phương pháp này chi dựa trên giá trị tài sản hiện tại mà không tính tới hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp.

– Phương pháp này mới định giá doanh nghiệp ở trạng thái tĩnh tức là chỉ tính tại thời điểm hiện tại mà không tính khả năng sinh lời trong tương lai do doanh nghiệp vẫn đang tiếp tục hoạt động.

– Định giá doanh nghiệp theo phương pháp này chỉ tính tới tài sản hữu hình mà bỏ qua tài sản vô hình – một phần tài sản rất quan trọng của doanh nghiệp. 

– Phương pháp này xem xét giá trị tài sản một cách riêng rẽ chứ không xem xét đến mối quan hệ tương quan giữa chúng. 

Đối tượng áp dụng:

Khi thị trường chứng khoán chưa phát triển hoặc đang trong giai đoạn đầu phát triển ; khi thiếu thông tin lịch sử về của doanh nghiệp; khi việc thu thập thông tin để sử dụng các phương pháp định giá khác gặp khó khăn và không đủ tin cậy.

– Những doanh nghiệp có thu nhập và dòng tiền dự đoán là âm. Khi đó, giá trị doanh nghiệp chỉ đơn thuần là giá trị thanh lý của tài sản. 

– Những doanh nghiệp khó dự đoán tình hình sản xuất kinh doanh trong tương lai.

Categories
Main

Một số lý luận về du lịch sinh thái

Trong bài viết này, nhanlamluanvan.com xin chia sẻ đến bạn một số lý luận về du lịch sinh thái, bao gồm: khái niệm, những đặc trưng cơ bản và các hình thức tồn tại của du lịch sinh thái.

Một số lý luận về du lịch sinh thái

>>> Xem thêm: Tổng hợp các phương pháp định giá doanh nghiệp

1. Những quan niệm về du lịch sinh thái

Du lịch sinh thái (Ecotourism) là một khái niệm tương đối mới và nhanh chóng thu hút được sự quan tâm của nhiều người thuộc các lĩnh vực khác nhau. Tuy nhiên, đến nay chưa có nhận thức thống nhất, còn nhiều cách tiếp cận khác nhau về khái niệm DLST. Các tổ chức và cá nhân tham gia nghiên cứu về loại hình du lịch này đều đưa ra những định nghĩa của riêng mình: 

Một trong những định nghĩa được coi là sớm về DLST mà đến nay vẫn được nhiều người quan tâm là định nghĩa của Hội DLST Quốc tế đưa ra năm 1991: “Du lịch sinh thái là loại hình du lịch có trách nhiệm đối với các vùng tự nhiên, bảo vệ môi trường và duy trì cuộc sống yên bình của người dân địa phương” [16, tr.11].

Theo quỹ bảo tồn động vật hoang dã (WWF – World Wild Fund): “Du lịch sinh thái đề cập tới các hoạt động du lịch đi tới các khu vực thiên nhiên hoang dã, gây tác động tối thiểu tới môi trường tự nhiên và cuộc sống của các loài động thực vật hoang dã trong khi mang lại một số lợi ích kinh tế cho cộng đồng địa phương và những người bản địa phục vụ tại đó” [16, tr.11].

Theo tổ chức du lịch thế giới (WTO – World Tourism Organisation): 

Du lịch sinh thái là loại hình du lịch được thực hiện tại những khu vực tự nhiên còn ít bị can thiệp bởi con người, với mục đích để chiêm ngưỡng, học hỏi về các loài động thực vật cư ngụ trong khu vực đó, giúp giảm thiểu và tránh được các tác động tiêu cực tới khu vực mà du khách đến thăm. Ngoài ra, du lịch sinh thái phải đóng góp vào công tác bảo tồn những khu vực tự nhiên và phát triển những khu vực cộng đồng lân cận một cách bền vững đồng thời phải nâng cao được khả năng nhận thức về môi trường và công tác bảo tồn đối với người dân bản địa và du khách đến thăm [16, tr.11].

Luật du lịch Việt nam (2005) đưa ra khái niệm DLST như sau: “Du lịch sinh thái là loại hình du lịch dựa vào thiên nhiên, gắn với bản sắc văn hóa địa phương, với sự tham gia của cộng đồng nhằm phát triển bền vững” [26, tr.11].

Tóm lại, du lịch sinh thái là tham quan và du lịch có trách nhiệm với môi trường tại các điểm tự nhiên không bị tàn phá để thưởng thức thiên nhiên và đặc điểm văn hóa đã tồn tại trong quá khứ hoặc đang hiện hành, qua đó khuyến khích hoạt động bảo vệ, hạn chế những tác động tiêu cực do khách quan gây ra và tạo ra ích lợi cho những người dân địa phương tham gia tích cực.

2. Những đặc trưng cơ bản về du lịch sinh thái

Các đặc trưng xuất phát từ sản phẩm du lịch sinh thái 

Sản phẩm DLST về cơ bản cũng không cụ thể không tồn tại dưới dạng vật thể. Thành phần chính của sản phẩm DLST là dịch vụ, hàng hóa chiếm tỷ trọng nhỏ. Sản phẩm DLST đa dạng và phong phú.

Do vậy việc đánh giá chất lượng sản phẩm DLST là rất khó khăn, vì thường mang tính chủ quan và phần lớn là không phụ thuộc người kinh doanh mà phụ thuộc vào người tiêu dùng – khách du lịch. Chất lượng sản phẩm DLST phụ thuộc vào tài nguyên du lịch. 

Sản phẩm DLST thường được tạo ra gắn liền với yếu tố tài nguyên du lịch. Do vậy, sản phẩm DLST ít có khả năng di chuyển được. Trên thực tế, không thể đưa sản phẩm DLST đến nơi có người tiêu dùng – khách du lịch mà bắt buộc người tiêu dùng phải đến với nơi có sản phẩm DLST để thỏa mãn nhu cầu của mình thông qua việc tiêu dùng. 

Sản phẩm của DLST được tạo ra trên cơ sở giảm thiểu tác hại đến môi trường. Dịch vụ vận chuyển: chủ yếu bằng phương tiện như đi bộ trong rừng, xe đạp, du thuyền… ; dịch vụ lưu trú: DLST đòi hỏi chủ yếu là nhà nghỉ sinh thái, sử dụng vật liệu ở địa phương; dịch vụ ăn uống, đồ ăn, thức uống sạch, an toàn;…những sản phẩm DLST này thật sự ít gây tác hại cho môi trường sinh thái. 

Các đặc trưng xuất phát từ tạo lập các sản phẩm DLST 

Quá trình tạo lập sản phẩm DLST phải được chuẩn bị kỹ lưỡng và công phu, mang tính thẩm mỹ cao. Việc xây dựng nhà nghỉ sinh thái, sản xuất hàng lưu niệm….đòi hỏi phải có thời gian và đáp ứng được các tiêu chí. Tiêu chí của DLST là khai thác tối đa nguyên liệu sẵn có tại địa phương nhưng không làm tổn hại đến tài nguyên để tạo ra hàng hóa và dịch vụ phục vụ nhu cầu du khách. Chính vì vậy, việc tạo lập sản phẩm DLST tốn nhiều thời gian, phải chuẩn bị kỹ lưỡng để tạo ra những sản phẩm đặc thù. 

Tạo lập sản phẩm du lịch không theo ý muốn chủ quan của những người kinh doanh dịch vụ mà phải theo quy định chung nhằm tạo ra sự đồng bộ, đảm bảo cảnh quan môi trường. Việc xây dựng cơ sở lưu trú, phương tiện vận chuyển khách du lịch phải theo quy hoạch thống nhất đảm bảo cảnh quan thiên nhiên, không làm tổn hại đến môi trường sống xung quanh.

Hướng dẫn viên đòi hỏi phải có chuyên môn, đồng thời là tuyên truyền viên trong lĩnh vực bảo vệ môi trường sinh thái, phải có kiến thức hiểu biết sâu rộng trong nhiều lĩnh vực như: kiến thức văn hóa dân tộc, am hiểu về tài nguyên thiên nhiên, động thực vật, ý thức cao trong bảo vệ môi trường, … 

Các đặc trưng xuất phát từ tiêu dùng sản phẩm DLST 

Phần lớn quá trình tạo ra và tiêu dùng các sản phẩm DLST trùng nhau về không gian và thời gian. Chúng không thể cất đi, tồn kho như các hàng hóa thông thường khác. Do vậy, để tạo ra sự ăn khớp giữa sản xuất và tiêu dùng là khó khăn. Việc thu hút khách du lịch nhằm tiêu thụ sản phẩm DLST là vấn đề vô cùng quan trọng đối với các nhà kinh doanh du lịch. 

Việc tiêu dùng sản phẩm DLST thường không diễn ra đều đặn, mà có thể tập trung vào những thời điểm nhất định trong ngày (đối với dịch vụ lưu trú, nhà hàng, cơ sở ăn uống), trong tuần (đối với sản phẩm thể loại du lịch cuối tuần), trong năm (đối với sản phẩm là một số loại hình du lịch như: du lịch biển, du lịch nghỉ núi…) Vì vậy, trên thực tế hoạt động kinh doanh du lịch thường mang tính mùa vụ. Sự dao động trong tiêu dùng sản phẩm DLST gây khó khăn cho việc tổ chức và hoạt động kinh doanh và từ đó ảnh hưởng đến kết quả kinh doanh. 

Trong quá trình tiêu dùng, sản phẩm DLST ít mất đi vì được tạo ra gắn liền với yếu tố tài nguyên du lịch. Du khách thỏa mãn nhu cầu khi tiêu dùng sản phẩm du sinh thái thông qua quan sát, ngắm nhìn, chiêm ngưỡng,…Do đó sản phẩm DLST thường vẫn tồn tại. 

Ngoài ra, DLST hoạt động chủ yếu trong môi trường thiên nhiên với đặc điểm đi kèm là: loại hình du lịch khuyến khích bảo vệ môi trường sinh thái, khuyến khích sự tham gia của cộng đồng dân cư và đem lại lợi ích về kinh tế xã hội thúc đẩy sự phát triển bền vững. Loại hình này luôn được sự quan tâm điều hành của Chính phủ và các tổ chức môi trường thế giới.

DLST là một dạng hoạt động tiêu dùng ở trình độ cao, lại biểu hiện với hình thức kinh doanh. Người du lịch phải chi tiêu một khoản tiền nhất định cho việc đi lại, ăn ở, vui chơi, mua sắm…; xã hội phải cung cấp các điều kiện tất yếu về việc giao thông, phương tiện du lịch cho hoạt động này. Trong quá trình tiêu dùng sản phẩm du lịch tất nhiên có liên quan với việc trao đổi về mặt chính trị, văn hóa từ đó tạo nên chỉnh thể du lịch. Do đó, muốn tiêu dùng sản phẩm du lịch dễ dàng đòi hỏi phải phát triển đồng bộ trên nhiều lĩnh vực.

3. Các hình thức tồn tại của du lịch sinh thái

DLST là ngành kinh tế có định hướng tài nguyên rõ rệt. Tài nguyên DLST rất phong phú và đa dạng cả tài nguyên du lịch tự nhiên và tài nguyên du lịch nhân văn. Do đó, DLST tồn tại với nhiều hình thức khác nhau. Dựa vào tài nguyên DLST và sự hướng dụng các sản phẩm du lịch có thể chia DLST thành các loại hình sau:

Một là: du lịch biển: đó là du lịch mà du khách đến thưởng ngoạn các phong cảnh hữu tình của mặt biển, đáy biển và các phong cảnh đẹp của đảo, bán đảo và hưởng dụng các sản phẩm do biển cung cấp như: cua, sò, cá, san hô, thảm cỏ biển… 

Mục tiêu chủ yếu của du khách là về với thiên nhiên, tham gia các hoạt động du lịch biển, đảo như: tắm biển, thể thao biển, lặn biển, xem chim thú các loài động thực vật trên đảo, dưới biển, nghỉ dưỡng biển, câu cá, thẻ mực, du thuyền trên biển,…. Thời gian thuận lợi cho loại hình này là mùa nóng, khi nhiệt độ nước biển và không khí trên 200C. Tuy nhiên, thường bị ảnh hưởng đến thời tiết, nhưng lại có nơi có thể tổ chức du lịch quanh năm. Mặt khác, điều kiện chất lượng mặt nước biển, bãi biển, độ dốc không phải nơi nào cũng phù hợp cho du lịch tắm biển. Loại hình này được những người có thu nhập cao ưa thích và có thể lưu lại dài ngày. 

– Hai là: Du lịch núi và hang động: là loại hình du lịch mà du khách khám phá các đỉnh núi cao, hang động huyền ảo, ngắm phong cảnh, chim thú lạ…Do tính độc đáo loại hình du lịch này rất thích hợp cho du lịch tham quan, nghỉ núi, khám phá núi và hang động, cắm trại, mạo hiểm…rất thích hợp những du khách ưa thích cảm giác mạnh. 

Ba là: Du lịch rừng sinh thái thiên nhiên: là loại hình du lịch mà du khách tham quan hệ sinh thái thiên nhiên hoang dã, ngắm phong cảnh, xem chim, thú và hưởng dụng các sản phẩm của rừng cung cấp như: cá, thú… Hệ sinh thái thiên nhiên điển hình là Vườn quốc gia, KDTSQ. Đây là một khu vực thiên nhiên hoang dã có đặc điểm nổi bật về hệ sinh thái và các loài động, thực vật được bảo vệ để duy trì đảm bảo phát triển bền vững.

Hệ sinh thái Vườn quốc gia, khu bảo tồn thiên nhiên là những vùng có sức cuốn hút lớn đối với khách du lịch. Vườn quốc gia, khu bảo tồn thiên nhiên được xây dựng nhằm ngăn chặn việc khai thác quá mức đời sống hoang dã và cảnh quan môi trường. Do tính độc đáo của nó, cho nên rất thuận lợi cho phát triển các loại hình du lịch như: du lịch tham quan, nghỉ dưỡng, giải trí ngoài trời, tìm hiểu thiên nhiên hoang dã, giáo dục, văn hóa, du lịch khám phá, cấm trại, về nguồn, xem chim thú, câu cá, đi bộ trong rừng,… 

Loại hình du lịch này có khả năng thu hút người có thu nhập, trình độ cao, những người làm việc bận rộn, căng thẳng, người thành thị họ muốn thưởng thức cuộc sống yên tỉnh, môi trường trong lành, tìm hiểu lịch sử, nghiên cứu khoa học…Đây là hình thức tồn tại đặc trưng của DLST. Loại hình này khuyến khích phát triển nhà nghỉ sinh thái, bảo tồn thiên nhiên, chống ô nhiễm môi trường. 

– Bốn là: Du lịch thăm bản làng dân tộc: Đây là nguồn tài nguyên nhân văn ở các khu sinh thái tự nhiên. Ở các làng bản dân tộc, nét độc đáo thu hút khách du lịch trong và ngoài nước đó là cộng đồng dân cư với vốn văn hoá truyền thống của họ như: các món ăn đặc sản, kiến trúc nghệ thuật, lối sống, sinh hoạt lễ hội và văn hoá dân gian…loại hình này rất hấp dẫn du khách nước ngoài. 

Năm là: Du lịch thôn quê: Đối với người dân đô thị, làng quê là nơi có không khí trong lành, cảnh vật thanh bình và không gian thoáng đãng. Tất cả các yếu tố đó, lại hoàn toàn không còn tìm thấy ở thành thị. Như vậy, về nông thôn có thể giúp họ phục hồi sức khỏe sau những chuỗi ngày làm việc căng thẳng. Về phương diện kinh tế, người dân đô thị nhận thấy giá cả nhiều hàng hóa nông sản thực phẩm ở nông thôn rẻ hơn, tươi hơn. Điều đó làm cho tăng mối thiện cảm khi du khách tiềm năng quyết định du lịch về nông thôn. Mặt khác, về mặt tình cảm người đô thị tìm thấy ở nông thôn cội nguồn của mình. Dưới góc độ xã hội, người thành thị thấy người dân ở làng quê tình cảm chân thành, mến khách và trung thực. 

Loại hình du lịch thôn quê được ưa thích là tham quan phong cảnh làng quê, du thuyền trên sông nước, câu cá, thăm vườn cây ăn trái, trải nghiệm cuộc sống làng quê – ở nhà dân, du lịch về nguồn, thăm viếng người thân. 

Sáu là: Du lịch gắn với chữa bệnh: là loại hình du lịch thưởng ngoạn cảnh quan thiên nhiên, yên tỉnh, môi trường trong lành gắn với chữa bệnh như suối nước, nghỉ dưỡng…. loại hình này rất thích hợp cho người lớn tuổi.

Categories
Main

Những vấn đề lý luận về hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất

Trong bài viết này, nhanlamluanvan.com xin chia sẻ đến bạn đọc những vấn đề lý luận về hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất.

Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất

>>> Xem thêm: Những vấn đề chung về tranh chấp đất đai và giải quyết tranh chấp đất đai

1. Khái niệm quyền sử dụng đất

Quyền sử dụng đất là quyền khai thác những thuộc tính có lợi từ đất một cách hợp pháp thông qua các hành vi sử dụng đất hoặc chuyển quyền đó cho người khác. Quá trình hình thành, vận động và phát triển của quyền sử dụng đất vừa diễn ra một cách tất yếu, khách quan vừa có sự gắn liền và lệ thuộc với chế định quyền sở hữu toàn dân đối với đất đai mà Nhà nước là người đại diện. Tuy nhiên, quyền sử dụng đất của người sử dụng đất là một phạm trù khá rộng, bao gồm nhiều quyền năng pháp lý khác nhau, trong đó, có quyền được chuyển quyền sử dụng đất. Các quyền này phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt nằm trong một “khuôn khổ” nhất định. Khuôn khổ đó chính là ý chí của Nhà nước được thực hiện bằng việc ban hành các quy định của pháp luật bắt buộc người sử dụng đất và các cơ quan quản lý nhà nước phải tuân theo. Các quy định này vừa có tính ổn định, vừa có sự biến đổi tùy thuộc vào từng giai đoạn phát triển của xã hội. Từ chỗ chỉ ghi nhận người người sử dụng đất chỉ có 5 quyền chuyển quyền sử dụng đất tại Luật đất đai năm 1993, Nhà nước đã mở rộng cho người người sử dụng đất có thêm quyền cho thuê lại, góp vốn bằng giá trị quyền sử dụng đất trong một số trường hợp nhất định tại Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật đất đai ngày 01/12/1998 và các quyền này tiếp tục được khẳng định tại Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật đất đai ngày 29/6/2001 và đặc biệt là Luật đất đai 2003 được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XI thông qua ngày 26/11/2003.

2. Khái niệm chuyển quyền sử dụng đất

Chuyển quyền sử dụng đất là việc người có quyền sử dụng đất có thể chuyển quyền này cho người khác bằng một trong các hình thức: chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho quyền sử dụng đất, góp vốn, thế chấp và bảo lãnh bằng giá trị quyền sử dụng đất. Chuyển quyền sử dụng đất là việc Nhà nước công nhận tính hợp pháp trong hành vi tự điều chỉnh đất của chủ thể đang sử dụng cho chủ thể mới. Hay nói khác đi, chuyển quyền sử dụng đất là việc Nhà nước cho phép người sử dụng đất được “định đoạt” quyền sử dụng đất hợp pháp của mình theo quy định của pháp luật.

Đặc điểm của chuyển quyền sử dụng đất:

Thứ nhất, người sử dụng đất không có toàn quyền quyết định, đoạt tuyệt đối với đất thuộc quyền sử dụng của mình như đối với các loại tài sản khác thuộc quyền sở hữu. Khi thực hiện việc chuyển quyền sử dụng đất, những người tham gia vào giao dịch phải tuân theo các quy định về điều kiện, nội dung, trình tự, thủ tục do pháp luật quy định. Việc chuyển quyền sử dụng đất bị ràng buộc bởi thời hạn, mục đích và quy hoạch sử dụng đất. Người nhận quyền sử dụng đất phải sử dụng đất đúng mục đích mà Nhà nước đã xác định. 

Thứ hai, do đất đai luôn có một vị trí cố định không di dời được, bởi vậy khác với các hàng hóa khác nó cần được đo đạc, lập hồ sơ thửa, đánh số, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hợp pháp. Việc chuyển quyền sử dụng đất chủ yếu được tiến hành thông qua hệ thống hồ sơ giấy tờ về đất. Do vậy, trong các giao dịch về đất đai hồ sơ địa chính, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, các hợp đồng phải rõ ràng, công khai, minh bạch. 

Thứ ba, giá trị quyền sử dụng đất khi chuyền sử dụng đất phụ thuộc vào nhiều yếu tố như vị trí thửa đất, khả năng sinh lợi của đất, mức độ hoàn thiện cơ sở hạ tầng, các yếu tố kinh tế, chính trị, xã hội khác. Do vậy, cùng một diện tích nhưng tọa lạc tại các vị trí khác nhau, thậm chí hai thửa đất nằm kề nhau thì khi chuyển quyền sử dụng đất giá có thể rất khác.

3. Khái niệm, đặc điểm của hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất

3.1. Khái niệm hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất

Đứng ở góc độ pháp luật dân sự, hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất là sự chuyển dịch quyền sử dụng đất từ người có quyền sử dụng đất hợp pháp sang người khác theo một trình tự, thủ tục, điều kiện do pháp luật quy định, theo đó, người có quyền sử dụng đất (người chuyển nhượng) có nghĩa vụ chuyển giao đất và quyền sử dụng đất cho người được chuyển nhượng (người nhận chuyển nhượng), người nhận chuyển nhượng có nghĩa vụ trả tiền cho người chuyển nhượng; người chuyển nhượng còn có nghĩa vụ nộp thuế chuyển quyền sử dụng đất, người nhận chuyển nhượng có nghĩa vụ nộp lệ phí trước bạ và lệ phí địa chính theo quy định của pháp luật.

3.2. Đặc điểm của hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất

Để hiểu rõ về những đặc trưng riêng của hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất chúng ta cần đi sâu vào phân tích và so sánh với một số hình thức chuyển nhượng đất đai khác.

Một là, so sánh giữa hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất với hợp đồng chuyển đổi quyền sử dụng đất 

Chuyển đổi quyền sử dụng đất là phương thức đơn giản của chuyển quyền sử dụng đất, theo đó, các bên có quyền sử dụng đất thỏa thuận chuyển quyền sử dụng đất cho nhau để thỏa mãn nhu cầu tiện lợi trong sản xuất, đời sống. 

Mục đích của chuyển đổi quyền sử dụng đất là tạo điều kiện thuận tiện cho sản xuất và đời sống, nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất. Việc Nhà nước ghi nhận quyền này có ý nghĩa rất lớn trong thực tiễn, nhất là trong sản xuất nông nghiệp. Trong những năm qua, Nhà nước ta đã có chủ trương khuyến khích việc chuyển đổi ruộng đất sản xuất nông nghiệp, qua quá trình thử nghiệm chủ trương này ở một số địa phương cho thấy, đã khắc phục được tình trạng đất đai manh mún, giảm thiểu số lượng thửa đất, tăng thêm diện tích trên mỗi thửa đất, tạo điều kiện thuận lợi cho việc đưa tiến bộ khoa học vào sản xuất nông nghiệp, nhờ đó, năng suất cây trồng và sản lượng nông nghiệp tăng lên rõ rệt. Tuy nhiên, hiện nay ở nước ta, thực trạng ruộng đất nông nghiệp ở nhiều nơi vẫn còn manh mún, phân tán, gây khó khăn không nhỏ cho việc đưa tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sự phát triển nền sản xuất hàng hóa trong nông nghiệp. Vì vậy, cần phải tổ chức thực hiện, vận động nông dân khắp nơi chuyển đổi ruộng đất theo kinh nghiệm của các địa phương.

Cũng như chuyển nhượng quyền sử dụng đất, chuyển đổi quyền sử dụng đất là một hình thức chuyển quyền sử dụng đất, theo đó Nhà nước chấm dứt quyền sử dụng đất của bên này để thiết lập quyền sử dụng đất cho bên kia. Tuy nhiên, giữa hai hình thức này có sự khác nhau và nó thể hiện ở chỗ, nếu như trong quan hệ chuyển nhượng quyền sử dụng đất, đối tượng của quan hệ là “đổi đất lấy tiền” và việc thực hiện quan hệ này là quá trình chấm dứt quyền sử dụng đất của bên chuyển nhượng để thiết lập quyền sử dụng đất cho bên nhận chuyển nhượng (quan hệ một chiều), thì trong quan hệ chuyển đổi quyền sử dụng đất, đối tượng chủ yếu của quan hệ là “đổi đất lấy đất”. Trong quan hệ chuyển đổi quyền sử dụng đất, các bên có thể thỏa thuận chuyển tiền cho nhau để bù đắp giá trị chênh lệch giữa hai thửa đất nhưng mục đích cơ bản và cũng là vấn đề mà cả người sử dụng đất lẫn cơ quan quản lý nhà nước quan tâm đó là các bên đổi quyền sử dụng đất cho nhau. Việc thực hiện quan hệ này là quá trình cùng một lúc chấm quyền sử dụng đất của cả hai bên đối với thửa đất mà họ đang sử dụng để thiết lập quyền sử dụng đất cho cả hai bên nhận quyền sử dụng đất từ phía bên kia (quan hệ hai chiều). 

Hai là, so sánh giữa hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất với hình thức thế chấp quyền sử dụng đất 

Thế chấp quyền sử dụng đất là trường hợp người sử dụng đất mang quyền sử dụng đất của mình đi thế chấp để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự. Nghĩa vụ dân sự là nghĩa vụ của bên thế chấp, thông thường được phát sinh từ hợp đồng vay mượn tiền, tài sản của bên nhận thế chấp và phải thấp hơn giá trị quyền sử dụng đất được đem ra thế chấp. Việc Nhà nước ghi nhận quyền này nhằm tạo điều kiện cho người sử dụng đất có thể dùng quyền sử dụng đất của mình để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ trong quá trình tạo lập cho mình một khoản tiền một cách hợp pháp để đầu tư vào công việc sản xuất, kinh doanh, hoặc thỏa mãn nhu cầu tiêu dùng tạm thời khi họ không có điều kiện kinh tế trước mắt. 

Cũng như chuyển nhượng quyền sử dụng đất, khi thế chấp quyền sử dụng đất, người có quyền sử dụng đất phải chuyển giao giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bên nhận thế chấp, nhưng sự chuyển giao này chỉ mang tính chất tạm thời, trong thời hạn thế chấp hoặc chưa giải trừ thế chấp.

Khác với hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, bên thế chấp không bị chấm dứt việc sử dụng đất của mình mà vẫn được tiếp tục chiếm hữu, sử dụng đất; bên nhận thế chấp không có quyền như một chủ sử dụng đất cả về mặt thực tế lẫn pháp lý mà họ chỉ có quyền kiểm soát quyền năng pháp lý của bên thế chấp và có quyền đưa quyền sử dụng đất Đ này ra phát mại bán đấu giá khi bên thế chấp không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ dân sự mà hai bên đã thỏa thuận. 

Như vậy, khác với hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, thế chấp quyền sử dụng đất là hình thức chuyển quyền sử dụng đất không trọn vẹn và có điều kiện, hay nói một cách khác, trong quan hệ thế chấp, việc “chuyển quyền ” ở đây thực ra là chuyển “quyền sử dụng đất theo danh nghĩa pháp lý” từ bên thế chấp sang cho bên nhận thế chấp kiểm soát, nắm giữ ” quyền sử dụng đất theo danh nghĩa pháp lý” đó, còn “quyền sử dụng đất thực tế” vẫn thuộc bên thế chấp, và bên nhận thế chấp chỉ có quyền “định đoạt theo quy định của pháp luật” quyền sử dụng đất của bên nhận thế chấp khi họ vi phạm nghĩa vụ của hợp đồng. Điều kiện chủ thể của bên nhận thế chấp không “rộng rãi” như bên nhận chuyển nhượng mà bị pháp luật “hạn chế” rất nhiều, theo quy định hiện hành, chỉ có tổ chức tín dụng và đảm bảo những điều kiện nhất định mới có quyền nhận thế chấp. 

Ba là, so sánh giữa hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất với hình thức hợp đồng mua bán tài sản 

Điểm giống nhau giữa hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và hợp đồng mua bán tài sản là các quan hệ của nó đều thuộc đối tượng điều chỉnh của pháp luật dân sự, theo đó, quyền và nghĩa vụ dân sự của các bên đều được phát sinh thông qua hình thức hợp đồng, quyền của bên này tương ứng với nghĩa vụ của bên kia, một bên có nghĩa vụ chuyển giao quyền sử dụng đất (đối với hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất) hoặc tài sản (đối với hợp đồng mua bán tài sản) và nhận tiền; ngược lại, bên kia có nghĩa vụ trả tiền và nhận quyền sử dụng đất hoặc tài sản. 

Tuy nhiên, giữa hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và hợp đồng mua bán tài sản có những điểm khác biệt, thể hiện ở những nội dung sau:

Thứ nhất, về mặt đối tượng, nếu như trong quan hệ mua bán tài sản, đối tượng của hợp đồng mua bán tài sản là tài sản (bao gồm vật có thực và quyền tài sản) thuộc quyền sở hữu của bên bán, thì trong quan hệ chuyển nhượng quyền sử dụng đất, đối tượng của hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất là quyền sử dụng đất của bên chuyển nhượng, còn thửa đất chuyển nhượng vẫn thuộc quyền sở hữu của toàn dân mà Nhà nước là người đại diện. 

Với tư cách là chủ sở hữu tài sản, bên bán có toàn quyền định đoạt tài sản bằng việc bán quyền sở hữu tài sản cho bên mua mà không phụ thuộc vào ý chí của người khác. Trong khi đó bên chuyển nhượng chỉ là người có quyền sử dụng đất nên khi chuyển nhượng cho người khác phải được sự cho phép của đại diện chủ sở hữu đối với thửa đất chuyển nhượng đó là Nhà nước. 

Thứ hai, về hình thức, hiệu lực của hợp đồng, nếu như hợp đồng mua bán tài sản có thể được giao kết bằng lời nói, bằng văn bản hoặc bằng hành vi cụ thể và thường có hiệu lực thi hành ngay sau khi xác lập (cam kết hoặc ký kết), trừ hợp đồng mua bán nhà ở và một số tài sản mà Nhà nước có quy định phải được lập bằng văn bản, thì hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất phải được lập bằng văn bản và chỉ có hiệu lực thi hành sau khi được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép. 

Thứ ba, về trách nhiệm, nghĩa vụ trước Nhà nước, nếu như trong mua bán tài sản, bên bán tài sản cũng như bên mua tài sản không phải thực hiện nghĩa vụ gì trước Nhà nước, trừ trường hợp Nhà nước quy định khi mua bán một số loại tài sản bên mua phải đăng ký quyền sở hữu và nộp lệ phí trước bạ, thì trong chuyển nhượng quyền sử dụng đất, các bên chuyển nhượng phải tuân thủ nguyên tắc, điều kiện, trình tự, thủ tục và phải có nghĩa vụ nộp thuế chuyển quyền sử dụng đất, lệ phí trước bạ, lệ phí địa chính theo quy định của pháp luật.

Categories
Main

Luận văn về giải quyết tranh chấp về chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn

Trong bài viết này, nhanlamluanvan.com xin chia sẻ đến bạn mẫu luận văn về giải quyết tranh chấp về chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn.

Giải quyết tranh chấp về chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn

>>> Xem thêm: Pháp luật về sử dụng các công cụ kinh tế trong bảo vệ môi trường

Đề cương luận văn về giải quyết tranh chấp về chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT CỦA VIỆC GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP VỀ CHIA TÀI SẢN CHUNG CỦA VỢ CHỒNG KHI LY HÔN

1.1. Cơ sở lý luận của việc giải quyết tranh chấp về chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn   

1.1.1.  Khái niệm và nội hàm tài sản chung của vợ chồng  

1.1.2.  Khái niệm giải quyết tranh chấp về chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn  

1.1.3.  Đặc điểm và ý nghĩa của việc giải quyết tranh chấp về chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn  

1.2. Cơ sở và căn cứ pháp luật của việc giải quyết tranh chấp về chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn

1.2.1.  Pháp luật về nội dung: Các nguyên tắc và các nội dung cụ thể 

1.2.2.  Pháp luật về tố tụng: Quyền hạn, nghĩa vụ, thẩm quyền của các chủ thể và trình tự, thủ tục trong giải quyết tranh chấp chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn  

1.3. Các điều kiện và các yếu tố đảm bảo hiệu quả của việc giải quyết tranh chấp về chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn

Kết luận chương 1          

Chương 2: THỰC TIỄN ÁP DỤNG PHÁP LUẬT TRONG VIỆC GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP VỀ CHIA TÀI SẢN CHUNG CỦA VỢ CHỒNG LY HÔN

2.1. Thực tiễn giải quyết các tranh chấp về chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn

2.1.1. Tình hình xét xử các vụ án hôn nhân và gia đình, những thành tựu đạt được

2.1.2. Những hạn chế, thiếu sót trong việc áp dụng pháp luật giải quyết tranh chấp về chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn tại Tòa án

2.2. Nguyên nhân dẫn đến hạn chế, thiếu sót

Kết luận chương 2

Chương 3: MỘT SỐ PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT, TĂNG CƯỜNG HIỆU QUẢ CỦA VIỆC GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP VỀ CHIA TÀI SẢN CHUNG CỦA VỢ CHỒNG KHI LY HÔN

3.1. Giải pháp hoàn thiện pháp luật

3.2. Giải pháp tăng cường hiệu quả pháp luật của việc giải quyết tranh chấp về chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn

Kết luận 3

KẾT LUẬN

Tính cấp thiết về đề tài

Từ xưa đến nay, gia đình luôn là tế bào của xã hội, là nơi những người có quan hệ huyết thống, hôn nhân và nuôi dưỡng cùng chung sống. Gia đình hòa thuận và hạnh phúc sẽ góp phần vào sự phát triển bền vững và phồn thịnh chung của xã hội. Nhận thức được vị thế quan trọng của gia đình, Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm, chú trọng đến việc xây dựng và giữ gìn gia đình êm ấm, hòa thuận, thể hiện ở sự quan tâm đó là Đảng và Nhà nước ta đã ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về hôn nhân và gia đình góp phần giúp cho sự tồn tại và phát triển của gia đình đi vào chuẩn mực, khuôn khổ, giúp tạo ra sự bền vững trong quan hệ gia đình. 

Khi nam nữ kết hôn, cùng nhau xây dựng một gia đình thì sự bền vững của quan hệ hôn nhân là mong muốn của những người vợ, người chồng, đây cũng là mục đích của việc xây dựng gia đình mà pháp luật đặt ra. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp, quan hệ hôn nhân do chịu sự tác động của nhiều yếu tố chủ quan và khách quan, đã không giữ được ý nghĩa và giá trị như mong muốn ban đầu, cuộc sống chung của vợ, chồng đã không còn hạnh phúc, nên pháp luật dự liệu khả năng cho họ quyền được giải phóng khỏi quan hệ hôn nhân bằng việc ly hôn. 

Khi ly hôn, vợ, chồng thường xảy ra các tranh chấp về nhân thân và tài sản, đặc biệt là về tài sản. Quan hệ tài sản giữa vợ, chồng là quan hệ tài sản gắn liền với nhân thân, tồn tại trong thời kỳ hôn nhân, không có tính đền bù ngang giá và không xác định được công sức đóng góp cụ thể của các bên nên khi xảy ra tranh chấp thì việc phân chia tài sản chung vợ, chồng là tương đối khó khăn, phức tạp, gây nhiều tranh cãi trong các vụ giải quyết ly hôn tại các cấp Tòa án. Hiện nay cùng với xu thế phát triển của xã hội, số lượng các vụ án ly hôn có tranh chấp về tài sản tăng lên, giá trị tài sản tranh chấp ngày càng lớn tạo ra rất nhiều khó khăn và áp lực cho cơ quan tiến hành tố tụng. Do vậy, nghiên cứu về vấn đề giải quyết tranh chấp về chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn là vấn đề có ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc. 

Với những lý do trên tôi quyết định lựa chọn đề tài “Giải quyết tranh chấp về chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn” làm Luận văn thạc sĩ luật học của mình.

Tình hình nghiên cứu đề tài

Xuất phát từ vai trò quan trọng của gia đình trong xã hội nên việc nghiên cứu về các tranh chấp trong quan hệ hôn nhân và gia đình luôn được quan tâm và chú ý, được nhiều nhà nghiên cứu và các học giả đề cập. 

Một số tài liệu chuyên khảo về hôn nhân và gia đình như: Giáo trình Luật HN&GĐ Việt Nam, Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Luật HN&GĐ của khoa luật, Trường Đại học Cần Thơ… các giáo trình này đều đề cập đến các kiến thức pháp lý cơ bản và khái quát về tài sản chung vợ chồng. Bên cạnh đó, các bài viết liên quan đến tài sản chung của vợ chồng như “Chế độ tài sản chung vợ chồng theo Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam” của tác giả Nguyễn Văn Cừ; tác giả Đoàn Thị Phương Diệp với “Nguyên tắc suy đoán tài sản chung trong Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam và Luật dân sự Pháp”; tác giả Nguyễn Văn Cừ- Ngô Thị Hường với “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về Luật hôn nhân và gia đình năm 2000”. Các bài viết này đã đề cập một cách khái quát về các căn cứ xác lập tài sản chung của vợ chồng. 

Bên cạnh đó, phải kể đến một số công trình nghiên cứu như “Chia tài sản chung của vợ chồng theo Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam năm 2000” của tác giả Nguyễn Thị Lan “Bàn thêm về chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân” của tác giả Nguyễn Hồng Hải; “Một số vấn đề chia tài sản của vợ chồng khi ly hôn theo Luật HN&GĐ năm 2000” của tác giả Nguyễn Thị Bích Vân, các công trình này đã nghiên cứu một cách tương đối toàn diện các nguyên tắc chia tài sản chung của vợ chồng. 

Mặc dù vậy, với xu hướng các vụ án ly hôn và chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn hiện nay ngày càng tăng và việc Luật HN&GĐ năm 2014 mới được ban hành và bước đầu đi vào áp dụng trong thực tiễn xét xử thì việc nghiên cứu các quy định của pháp luật về việc giải quyết tranh chấp về chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn là điều rất quan trọng, qua nghiên cứu sẽ thấy được những tiến bộ của Luật HN&GĐ năm 2014 và những hạn chế, bất cập trong quá trình áp dụng các quy định của pháp luật để giải quyết tranh chấp về chia tài sản chung của vợ chồng, đề ra những kiến nghị hoàn thiện pháp luật và những phương hướng nhằm nâng cao hiệu quả của công tác xét xử giải quyết tranh chấp về chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn.

Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài

Mục đích nghiên cứu của đề tài 

Làm rõ quy trình, cơ sở pháp lý để giải quyết các tranh chấp về tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn tại toà án, thực tiễn áp dụng pháp luật để giải quyết các tranh chấp về tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn tại toà án qua công tác xét xử và qua đó phát hiện những vấn đề còn bất cập trong các quy định của pháp luật cũng như những khiếm khuyết, sai sót trong công tác xét xử của toà án để từ đó đề xuất những kiến nghị nhằm đảm bảo chất lượng, hiệu quả công tác xét xử và quyền, lợi chính đáng của các đương sự trong vụ án giải quyết chia tài sản chung vợ chồng. 

Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài 

Nghiên cứu làm rõ các quy định về thủ tục tố tụng, cơ sở pháp luật để giải quyết các tranh chấp về tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn theo quy định của pháp luật hiện hành. 

Nghiên cứu việc áp dụng pháp luật để giải quyết các tranh chấp về tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn qua thực tiễn công tác xét xử của toà án. 

Qua đó đánh giá hiệu quả của việc xét xử tại toà án về giải quyết các tranh chấp tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn, phát hiện những vấn đề vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật cũng như trong thực tiễn áp dụng pháp luật khi xét xử tại toà án và đề xuất các kiến nghị cần thiết. 

Đối tượng nghiên cứu 

Các quy định của pháp luật hiện hành về quy trình, thủ tục, căn cứ pháp luật giải quyết tranh chấp về chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn và thực tiễn việc giải quyết tại Tòa án. 

Các vụ án cụ thể mà toà án đã xét xử giải quyết tranh chấp về chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn. 

Báo cáo tổng kết công tác xét xử của ngành toà án. 

Phạm vi nghiên cứu đề tài 

Luận văn chủ yếu tập trung nghiên cứu các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, Luật HN&GĐ năm 2014 và một số văn bản khác có liên quan về quy trình, thủ tục tố tụng giải quyết các tranh chấp về chia tài sản chung của vợ, chồng; các căn cứ pháp luật về nội dung để giải quyết tranh chấp về chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn. Đồng thời, nghiên cứu việc áp dụng pháp luật giải quyết các tranh chấp về chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn qua thực tiễn xét xử tại toà án thông qua các vụ án cụ thể trong thời gian từ khi Luật HN&GĐ năm 2000 có hiệu lực đến nay. Đề tài chỉ nghiên cứu giải quyết các tranh chấp về tài sản chung của vợ, chồng khi ly hôn, còn những tranh chấp về tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân hoặc các tranh chấp về tài sản riêng của vợ hoặc chồng khi ly hôn không được nghiên cứu trong đề tài này. Đề tài nghiên cứu về thủ tục tố tụng và các quy định về nội dung của việc giải quyết tranh chấp về chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn. 

Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu đề tài 

Cơ sở phương pháp luận nghiên cứu đề tài là phép duy vật biện chứng, duy vật lịch sử và các quan điểm của Đảng, pháp luật của Nhà nước điều chỉnh quan hệ hôn nhân và gia đình. 

Phương pháp nghiên cứu cụ thể: Trong quá trình nghiên cứu, tác giả sử dụng phương pháp phân tích, so sánh, tổng hợp, thống kê, mô hình hoá và đồng thời nghiên cứu những báo cáo công tác xét xử của toà án, các bản án của toà án giải quyết các tranh chấp về tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn, các bài viết, tham luận của một số tác giả về vấn đề nghiên cứu. 

Dự kiến kết quả nghiên cứu của đề tài 

Đây là một đề tài có tính chuyên sâu đồng thời có tính thực tiễn sâu sắc trong chuyên ngành luật dân sự. Đề tài chú trọng nghiên cứu về mặt thực tiễn giải quyết các tranh chấp về chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn qua công tác xét xử của các cấp toà án từ khi Luật HN&GĐ năm 2000 có hiệu lực đến nay, đồng thời liên hệ những điểm mới trong Luật HN&GĐ năm 2014. Qua đó phát hiện những vướng mắc, bất cập trong các quy định của pháp luật cũng như những khiếm khuyết, sai sót trong quá trình áp dụng pháp luật để giải quyết các tranh về chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn tại toà án. Trên cơ sở đó luận văn đề xuất một số kiến nghị để giải quyết những vướng mắc, bất cập và hoàn thiện pháp luật về giải quyết tranh chấp chia tài sản chung của vợ chồng nhằm đảm bảo việc giải quyết tranh chấp về chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn có thể tiết kiệm được thời gian, chi phí và đảm bảo được quyền, lợi ích chính đáng của các bên liên quan. 

Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3 chương: 

Chương 1: Cơ sở lý luận và pháp luật của việc giải quyết tranh chấp về chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn. 

Chương 2: Thực tiễn áp dụng pháp luật trong việc giải quyết tranh chấp về chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn. 

Chương 3: Một số phương hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật, tăng cường hiệu quả của việc giải quyết tranh chấp về chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn.

Categories
Main

Pháp luật về sử dụng các công cụ kinh tế trong bảo vệ môi trường

Trong bài viết này, nhanlamluanvan.com xin chia sẻ đến bạn pháp luật về sử dụng các công cụ kinh tế trong bảo vệ môi trường.

Pháp luật về sử dụng các công cụ kinh tế trong bảo vệ môi trường

>>> Xem thêm: Luận văn về giải quyết tranh chấp về chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn

1. Khái niệm pháp luật về sử dụng các công cụ kinh tế trong bảo vệ môi trường

Pháp luật là hệ thống các quy tắc xử sự mang tính bắt buộc chung do Nhà nước ban hành hoặc thừa nhận được Nhà nước bảo đảm thực hiện nhằm mục đích điều chỉnh các quan hệ xã hội. Pháp luật là công cụ để thực hiện quyền lực nhà nước và là cơ sở pháp lý cho đời sống xã hội.

Một trong những chức năng của pháp luật là chức năng điều chỉnh. Sự điều chỉnh của pháp luật lên các quan hệ xã hội được thực hiện theo hai hướng: một mặt pháp luật ghi nhận các quan hệ xã hội chủ yếu trong xã hội; mặt khác pháp luật bảo đảm cho sự phát triển của xã hội. Như vậy, pháp luật đã thiết lập “trật tự” đối với các quan hệ xã hội, tạo điều kiện cho các quan hệ xã hội phát sinh theo chiều hướng nhất định, phù hợp với quy luật vận động khách quan của các quan hệ xã hội.

Quan hệ xã hội là mối quan hệ giữa con người với con người và mối quan hệ giữa con người với thiên nhiên. Quá trình xây dựng và thực hiện pháp luật về sử dụng các CCKT trong BVMT có rất nhiều quan hệ xã hội. Quan hệ giữa con người với con người trong điều chỉnh pháp luật về sử dụng các CCKT trong BVMT có thể là:

– Quan hệ giữa các cơ quan nhà nước với nhau trong quá trình xây dựng, thực hiện pháp luật về sử dụng các CCKT trong BVMT;

– Quan hệ giữa cơ quan quản lý nhà nước với các chủ thể sử dụng các công cụ kinh tế trong BVMT;

– Quan hệ giữa các chủ thể trong quá trình sử dụng các CCKT trong BVMT.  

Các quan hệ trên đòi hỏi phải điều chỉnh bằng pháp luật. Cần phải có nguyên tắc xử sự bắt buộc, được làm gì, không được làm gì và làm như thế nào để hướng chúng đi theo một trật tự nhất định, không thể là mối quan hệ tự phát. Có như vậy, môi trường mới được bảo vệ.

Với những đặc trưng cơ bản của công cụ kinh tế đã phân tích ở phần 2.1.2, các công cụ kinh tế hoàn toàn có tính tương phản với công cụ điều hành và kiểm soát. Khi chúng ta sử dụng công cụ kinh tế trong bảo vệ môi trường, trong nhiều trường hợp, chúng còn tạo ra khả năng ý thức tự nguyện chấp hành đối với những hành vi ứng xử với môi trường. Bên cạnh đó, với tư cách là một trong số các công cụ của quản lý môi trường, công cụ kinh tế có thể được sử dụng thay thế hoặc bổ sung cho các công cụ khác của quản lý môi trường.

Các quan hệ cơ bản phát sinh trong quá trình sử dụng các CCKT trong BVMT có nhu cầu điều chỉnh bằng pháp luật vì bên cạnh chức năng điều chỉnh, pháp luật còn có chức năng bảo vệ. Pháp luật là công cụ bảo vệ các quan hệ xã hội mà nó điều chỉnh. Khi các hành vi vi phạm pháp luật môi trường xảy ra, xâm phạm đến các quan hệ xã hội được pháp luật điều chỉnh thì các cơ quan nhà nước có thẩm quyền sẽ áp dụng các biện pháp cưỡng chế đối với các chủ thể có hành vi vi phạm.

Trong các biện pháp tác động tới các chủ thể tham gia vào hoạt động BVMT thì biện pháp pháp lý là sự thể chế hóa các yêu cầu BVMT bằng các quy định của pháp luật. Thông qua đó, quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm cụ thể của các tổ chức, cá nhân được thể hiện trong các quy định mang tính bắt buộc và đảm bảo thực hiện bằng sức mạnh cưỡng chế. Như vậy, một trong những đảm bảo quan trọng của biện pháp pháp lý chính là việc ban hành và tổ chức thực hiện các quy định của pháp luật về BVMT nói chung và pháp luật về sử dụng các CCKT trong BVMT nói riêng.

Pháp luật về sử dụng các CCKT trong BVMT tác động vào ý thức của con người, làm cho con người xử sự phù hợp với cách xử sự được quy định trong các quy phạm của pháp luật. Từ sự nhận thức này sẽ hướng con người đến những hành vi, cách xử sự phù hợp với lợi ích của xã hội, Nhà nước và của bản thân trong quá trình sử dụng, hưởng lợi từ môi trường. 

Như vậy, pháp luật về sử dụng các CCKT trong BVMT được quan niệm là một bộ phận của pháp luật môi trường, bao gồm hệ thống các quy phạm pháp luật, các nguyên tắc pháp lý về các chủ thể sử dụng các CCKT; quyền và nghĩa vụ của các chủ thể; trình tự, thủ tục và hình thức xử lý các vi phạm pháp luật BVMT.

2. Nội hàm của pháp luật về sử dụng các công cụ kinh tế trong bảo vệ môi trường

Nói đến pháp luật về sử dụng các CCKT trong BVMT là đề cập toàn bộ các văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh hoạt động BVMT khi tiến hành các hoạt động sản xuất, kinh doanh và những hoạt động khác có liên quan.

Hiện nay có nhiều quan niệm khác nhau về nội hàm pháp luật về sử dụng các CCKT trong BVMT. Có quan niệm cho rằng pháp luật về sử dụng các CCKT trong BVMT là toàn bộ các quy định của pháp luật do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành quy định về công tác BVMT trong các lĩnh vực khác nhau. Cơ sở của quan niệm này xuất phát từ đặc tính của hoạt động sản xuất, kinh doanh của các DN có tính liên ngành, liên vùng và xã hội hóa cao. Do vậy, tất cả các quy định về BVMT trong những ngành, lĩnh vực khác đều có tác động nhất định đến sử dụng các CCKT trong BVMT. Quan niệm này có phần rộng vì xét cho cùng môi trường có quan hệ chặt chẽ với sự phát triển của hoạt động sản xuất, kinh doanh nhưng mỗi ngành đều có những đặc thù riêng khi xác lập và thực hiện. Do vậy, nếu cho rằng pháp luật về sử dụng các CCKT trong BVMT bao gồm toàn bộ những quy định về BVMT thì phạm vi quá lớn.

Có quan niệm cho rằng pháp luật về sử dụng các CCKT trong BVMT gồm những quy phạm pháp luật do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành quy định cụ thể quyền và nghĩa vụ của các cơ quan quản lý nhà nước trong việc sử dụng các CCKT trong BVMT. Quan niệm này là chưa đầy đủ vì chủ thể sử dụng các CCKT trong BVMT bao gồm các tổ chức, cá nhân, cơ quan quản lý nhà nước…Do đó, chủ thể sử dụng các CCKT trong BVMT chỉ do cơ quan quản lý nhà nước thực hiện thì chưa chính xác.

Theo nghiên cứu sinh trong lĩnh vực môi trường, nội hàm pháp luật về sử dụng các CCKT trong BVMT bao gồm:

Thứ nhất, các quy định của pháp luật về sử dụng các CCKT trong BVMT có liên quan đến các hoạt động của các DN, cơ sở sản xuất, kinh doanh có tác động đến môi trường. Bộ phận này là tập hợp các quy phạm pháp luật về BVMT nói chung và pháp luật về sử dụng các CCKT trong BVMT nói riêng có nội dung liên quan trực tiếp đến hành vi của các chủ thể trong quá trình tiến hành các hoạt động sản xuất, kinh doanh gây ô nhiễm môi trường, cũng như quy định về việc thực hiện nghĩa vụ BVMT của các chủ thể tham gia quan hệ sản xuất, kinh doanh có tác động đến môi trường. Nhóm những quan hệ này bao gồm:

Một là, quy định của pháp luật về chính sách tài trợ trong quản lý BVMT như: pháp luật về ngân sách nhà nước trong BVMT và pháp luật về Quỹ BVMT

Hai là, quy định của pháp luật về nhóm các CCKT kích thích lợi ích kinh tế gồm: pháp luật về thuế BVMT; pháp luật về phí BVMT;

Ba là, quy định của pháp luật về nhóm các CCKT nâng cao trách nhiệm xã hội trong hoạt động BVMT bao gồm: pháp luật về ký quỹ để cải tạo, phục hồi môi trường trong hoạt động khai thác khoáng sản; pháp luật về đặt cọc – hoàn trả; pháp luật về nhãn sinh thái;

Thứ hai, pháp luật về sử dụng các CCKT trong BVMT bao gồm các thiết chế thực thi pháp luật BVMT nhằm đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong giai đoạn hiện nay. Đây là toàn bộ các quy định của pháp luật về chế tài xử phạt các hành vi vi phạm pháp luật trong BVMT.

3. Các nguyên tắc cơ bản của việc áp dụng pháp luật về sử dụng các công cụ kinh tế trong bảo vệ môi trường

Pháp luật về sử dụng các CCKT trong BVMT được xây dựng và tổ chức thực hiện dựa trên các nguyên tắc cơ bản đã được quốc tế thừa nhận, bao gồm:

3.1. Nguyên tắc người gây ô nhiễm phải trả tiền (Polluter Pays Principle – PPP)

Một trong những nguyên tắc quan trọng được áp dụng trong lĩnh vực quản lý môi trường ngày càng được phổ biến rộng rãi trên toàn thế giới đó là nguyên tắc PPP do Tổ chức hợp tác kinh tế và phát triển (Organization for Economic Cooperation and Development – OECD) soạn thảo năm 1972. Nguyên tắc này ra đời dựa trên cơ sở xem môi trường là một loại hàng hoá. Nguyên lý căn bản của PPP là việc yêu cầu giá cả của một hàng hoá hay dịch vụ phải được thể hiện đầy đủ trong tổng chi phí sản xuất ra, bao gồm các chi phí của tất cả các loại tài nguyên thiên nhiên được sử dụng cũng như giá trị tiêu hao của các thành phần môi trường. Nguyên tắc PPP yêu cầu những ai tác động vào môi trường phải trả tiền cho hành vi khai thác các thành phần môi trường, đó chính là “cái giá” mà một chủ thể phải bỏ ra để mua loại hàng hoá môi trường vào phục vụ nhu cầu của mình.

Đây cũng chính là cơ sở chủ yếu tạo ra những CCKT dùng để quản lý môi trường, nhất là trong việc kiểm soát ô nhiễm. Tính linh hoạt và hiệu quả kinh tế là hai yếu tố quan trọng làm cho các CCKT ngày càng được sử dụng rộng rãi trên thế giới trong vấn đề BVMT, nhất là trong quản lý chất lượng môi trường và kiểm soát ô nhiễm. Theo Báo cáo điều tra của OECD năm 1994, trong số 14 nước được điều tra đã có đến 150 loại CCKT được đề xuất và áp dụng. Có một hệ thống các công cụ khuyến khích kinh tế nhằm định hướng hành vi tích cực vào môi trường đang được áp dụng rộng rãi tại các quốc gia, nhất là tại các nước OECD, gồm các công cụ chủ yếu sau đây:

– Tạo lập thị trường và hỗ trợ thị trường được thực hiện trên cơ sở luật lệ hay các quy định được thay đổi như: việc tạo lập thị trường mua bán quyền phát thải trên cơ sở giấy phép phát thải, đấu giá hạn ngạch thải…

– Thay đổi trực tiếp các mức giá cả hoặc chi phí xảy ra khi có sự thay đổi về lệ phí, phí theo sản phẩm, theo việc phát thải… hay hệ thống ký thác hoàn trả.

– Thay đổi gián tiếp các mức giá cả hoặc chi phí xảy ra khi có sự trợ cấp trực tiếp, tín dụng ưu đãi hay khuyến khích tài chính nhằm áp dụng công nghệ sạch cho môi trường, khuyến khích các hành vi kinh tế để thực thi các chính sách về môi trường.

Việc áp dụng các CCKT này dựa trên cơ sở các quy luật thị trường và cơ chế về giá mà đối tượng áp dụng của các công cụ này chính là môi trường. Nói cách khác, các CCKT là những phương thức trao đổi, mua bán loại hàng hóa môi trường, đó chính là những hình thái thể hiện của việc thương mại hóa môi trường. Do các CCKT được áp dụng ngày càng phổ biến trên thế giới trong quản lý môi trường nên tạo thành một “xu hướng” – đó chính là xu hướng thương mại hoá môi trường.           

Trong thời gian gần đây, nguyên tắc “Người gây ô nhiễm phải trả tiền” còn được củng cố bằng nhiều nguyên tắc cơ bản khác như: “nguyên tắc phòng ngừa”, “nguyên tắc cấp dưới”,“nguyên tắc hiệu quả kinh tế, tiết kiệm chi phí” và “nguyên tắc hiệu quả về luật pháp” góp phần tạo ra thế chủ đạo cho việc hoạch định các chính sách môi trường.

3.2. Nguyên tắc người hưởng thụ phải trả tiền (Beneficiary Pay Principle –BPP)

Nguyên tắc BPP chủ trương tạo lập một cơ chế nhằm đạt được các mục tiêu về môi trường. Người được hưởng một môi trường đã được cải thiện cũng phải trả một khoản chi phí. Tất cả những người được hưởng lợi do có được môi trường trong lành không bị ô nhiễm thì phải nộp phí. Nguyên tắc BPP cho rằng việc phòng ngừa ô nhiễm và cải thiện môi trường cần được hỗ trợ từ phía những người muốn được thay đổi hoặc những người không phải trả giá cho các chất thải gây ô nhiễm môi trường.

Khi thực hiện nguyên tắc BPP chúng ta sẽ tạo ra một khoản thu đáng kể. Mức thu phí theo đầu người càng cao và càng có nhiều người nộp phí thì số tiền thu được càng nhiều. Nếu mức phí có thể được thu đủ để dành cho các mục tiêu môi trường thì lúc đó chính sách này có thể được coi là chính sách có hiệu quả về môi trường. Với mục đích nhằm BVMT, nguyên tắc BPP nhận được ủng hộ rộng rãi của công chúng.

Xét về mặt hiệu quả kinh tế, nguyên tắc BPP là nguyên tắc có tính phù hợp cao vì hiệu quả kinh tế chỉ có thể đạt được nếu các nguồn thu được sử dụng ở mức tối ưu. Do vậy, nếu việc định mức phí, lệ phí môi trường đưa ra ở mức tối ưu và khoản phí thu được chủ yếu phục vụ cho các biện pháp cụ thể có liên quan đến BVMT thì nó có thể đạt được hiệu quả kinh tế. Tuy nhiên, nguyên tắc BPP lại chưa đáp ứng được tính công bằng kinh tế vì các công ty có thể sử dụng nguồn lợi môi trường để sản xuất ra hàng hoá và dịch vụ nhưng đã có người khác phải chịu chi phí đó, nghĩa là họ không trả đủ chi phí cho hàng hóa và dịch vụ mà họ tiêu thụ trên thị trường.

3.3. Nguyên tắc kích thích lợi ích kinh tế

Nguyên tắc kích thích lợi ích kinh tế xuất phát từ một thực tế không thể phủ nhận đó là: lợi ích là động lực thúc đẩy con người tiến hành các hoạt động kinh tế – xã hội, đặc biệt là lợi ích kinh tế. Bởi lẽ, mỗi một con người hay xã hội muốn tồn tại và phát triển thì nhu cầu của họ phải được đáp ứng. Mà lợi ích và nhu cầu có mối quan hệ mật thiết với nhau. Lợi ích bắt nguồn từ nhu cầu và là cái để đáp ứng nhu cầu. Trong hệ thống lợi ích của con người nói chung bao gồm lợi ích kinh tế, lợi ích chính trị, tư tưởng, văn hoá – xã hội thì lợi ích kinh tế giữ vai trò quyết định nhất vì nó gắn liền với nhu cầu vật chất, nhằm đáp ứng nhu cầu vật chất – là nhu cầu cơ bản nhất cho sự tồn tại và phát triển của con người, của xã hội và khi đời sống vật chất của con người được đảm bảo thì đời sống tinh thần cũng mới được nâng cao. Chính vì thế, lợi ích kinh tế giữ vai trò quan trọng nhất, quyết định nhất, là cơ sở, nền tảng cho sự tồn tại và phát triển của mỗi con người nói riêng, cũng như xã hội nói chung. Vì thế có thể khẳng định rằng mọi nguyên nhân suy cho cùng đều là động lực kinh tế và chính lợi ích kinh tế giữ vai trò động lực cho các hoạt động kinh tế – xã hội.

Nội dung của nguyên tắc kích thích lợi ích kinh tế bằng việc áp dụng các CCKT trong BVMT là dùng lợi ích kinh tế – lợi ích vật chất để kích thích con người tiến hành các hoạt động có lợi cho môi trường. Quản lý môi trường trước hết là quản lý các hoạt động phát triển do con người (cá nhân hay cộng đồng) tiến hành tổ chức và phát huy tính tích cực hoạt động của mình vì mục đích phát triển bền vững. Con người dù cá nhân, tập thể hay cộng đồng đều có những lợi ích, nguyện vọng và những nhu cầu nhất định. Do đó, một trong những nhiệm vụ quan trọng của quản lý môi trường là phải chú trọng đến lợi ích con người để khuyến khích họ có hành vi và thái độ ứng xử phù hợp với mục tiêu BVMT của họ. Lợi ích không những là sự vận động tự giác, chủ quan của con người nhằm thoả mãn một nhu cầu nào đó của mình mà còn là động lực nhằm phát huy tính tích cực, chủ động của con người và là phương tiện hữu hiệu quản lý và BVMT nên phải sử dụng nó để khuyến khích các hoạt động có lợi cho môi trường.

3.4. Nguyên tắc sử dụng nguồn tài chính tập trung

Theo quy định tại điều 110 Luật BVMT năm 2005 thì NSNN là một trong những nguồn tài chính để BVMT. Theo quy định tại điều 31 Luật NSNN năm 2002 thì chi cho môi trường là một trong những nhiệm vụ chi thường xuyên của NSNN. Tương tự, tại khoản 2 điều 110 Luật BVMT năm 2005 quy định: “NSNN có mục chi thường xuyên cho sự nghiệp môi trường phù hợp với yêu cầu BVMT của từng thời kỳ, hàng năm, bảo đảm tỷ lệ tăng chi ngân sách cho sự nghiệp môi trường cao hơn tăng chi NSNN”. Đó là hoạt động “nhằm sử dụng quỹ NSNN, là quá trình phân phối nguồn tiền tệ nằm trong quỹ NSNN để chi dùng vào những mục đích khác nhau” [115, tr.79], cụ thể ở đây là nhằm mục đích quản lý và BVMT. Vì thế, khi sử dụng NSNN trong quản lý và BVMT phải đảm bảo các khoản chi phải được hạch toán kế toán, quyết toán đầy đủ, kịp thời, đúng chế độ và tuân theo các nguyên tắc cơ bản của hoạt động sử dụng NSNN. Cùng với NSNN, các Quỹ BVMT cũng là một trong các nguồn tài chính để BVMT. Các Quỹ BVMT là các tổ chức tài chính, vì thế trong quá trình sử dụng nguồn lực tài chính của mình để thực hiện các hoạt động có lợi cho môi trường thì ngoài việc tuân thủ các điều lệ hoạt động của Quỹ, còn phải tuân thủ các chế độ kế toán, hoá đơn, chứng từ theo pháp luật kế toán hiện hành.

4. Tiêu chí cơ bản xác định mức độ phù hợp của pháp luật về sử dụng các công cụ kinh tế trong bảo vệ môi trường

Để đánh giá mức độ phù hợp của pháp luật về sử dụng các CCKT trong BVMT cần phải dựa vào những tiêu chí nhất định được xác định trên cơ sở lý luận, từ đó liên hệ với điều kiện và hoàn cảnh thực tiễn xem xét những yếu tố khách quan, chủ quan, phân tích những ưu điểm, nhược điểm của những quy định pháp luật này. Có nhiều tiêu chí khác nhau để xác định mức độ phù hợp của pháp luật về sử dụng các CCKT trong BVMT, trong đó có bốn tiêu chí cơ bản, cụ thể:

– Tính toàn diện của pháp luật về sử dụng các CCKT trong BVMT. Tính toàn diện được thể hiện ở chỗ: 

Thứ nhất, pháp luật về sử dụng các CCKT trong BVMT phải có đầy đủ các bộ phận cấu thành của nó. Đó là tập hợp các quy định của pháp luật về điều chỉnh hành vi của các chủ thể, quyền và nghĩa vụ, trình tự, thủ tục, chế tài xử phạt các hành vi vi phạm pháp luật trong BVMT.

Thứ hai, mỗi bộ phận cấu thành phải có những quy phạm pháp luật quy định về quyền và nghĩa vụ của các tổ chức, cá nhân trong việc sử dụng các CCKT trong BVMT…

– Tính đồng bộ của pháp luật về sử dụng các CCKT trong BVMT. Tính đồng bộ thể hiện sự thống nhất của pháp luật. Đó là sự đồng bộ giữa các bộ phận cấu thành pháp luật về sử dụng các CCKT trong BVMT. Theo đó, các quy định của pháp luật về sử dụng các CCKT trong BVMT và những lĩnh vực liên quan cần loại bỏ sự trùng lặp, chồng chéo hoặc mâu thuẫn. Ở mức độ cao hơn, trong mỗi bộ phận cấu thành này phải tạo ra được một nhóm hoặc một hệ thống quy phạm pháp luật cơ bản để tạo cơ sở củng cố tính thống nhất của cả bộ phận. Đồng thời, các quy phạm pháp luât cụ thể trong mỗi bộ phận cấu thành, cũng phải thống nhất, không mâu thuẫn, chồng chéo với nhau.

– Tính phù hợp của pháp luật về sử dụng các CCKT trong BVMT 

Tính phù hợp thể hiện ở sự tương quan giữa nội dung, yêu cầu và mục tiêu của pháp luật về sử dụng các CCKT trong BVMT với mức độ phát triển, trình độ hiểu biết của các DN. Tiêu chí này không cho phép pháp luật được xây dựng vượt ra ngoài khả năng đáp ứng của các quan hệ xã hội trong lĩnh vực này nhưng cũng không thể thấp hơn trình độ của các quan hệ xã hội đó. Tính phù hợp thể hiện ở nhiều mặt, nhiều lĩnh vực khác nhau. Khi đánh giá tiêu chí này, cần đặt pháp luật trong những mối quan hệ cụ thể như với trình độ phát triển kinh tế, ý thức chính trị, truyền thống xã hội…, từ đó rút ra những bất cập, thiếu sót của pháp luật để sửa đổi, bổ sung cho phù hợp.

– Pháp luật về sử dụng các CCKT trong BVMT phải được xây dựng ở trình độ kỹ thuật pháp lý cao

Kỹ thuật pháp lý cao là một vấn đề tương đối rộng, phức tạp. Mỗi một quốc gia, khu vực có quan niệm riêng về trình độ kỹ thuật pháp lý. Ở Việt Nam hiện nay vẫn còn nhiều ý kiến khác nhau về kỹ thuật pháp lý “cao” trong xây dựng và hoàn thiện pháp luật. Tuy nhiên, có một số điểm cơ bản nhận được sự đồng thuận chung của cá nhà làm luật về một trình độ pháp lý cao, đó là:

+ Khi xây dựng và hoàn thiện pháp luật, nhà làm luật phải xác định được những nguyên tắc tối ưu nhất, xuyên suốt toàn bộ quá trình này. Đây sẽ là những tư tưởng, ý chí chủ đạo định hướng cho toàn bộ các hoạt động xây dựng và hoàn thiện pháp luật.

+ Trình độ kỹ thuật pháp lý thể hiện ở việc xác định chính xác cơ cấu của pháp luật. Ví dụ: trong việc xây dựng và hoàn thiện pháp luật về sử dụng các CCKT trong BVMT, cơ quan có thẩm quyền phải xác định chính xác những bộ phận cấu thành của hệ thống pháp luật này, vai trò, nhiệm vụ của từng bộ phận.

+ Trình độ kỹ thuật pháp lý cao còn thể hiện ở chỗ ngôn ngữ pháp lý phải đảm bảo tính cô đọng, chính xác, logic và không đa nghĩa.

Ngoài những tiêu chí cơ bản nêu trên, pháp luật về sử dụng các CCKT trong BVMT được xây dựng và hoàn thiện trong xu thế hội nhập, tiếp cận với trình độ, mặt bằng chung của các quốc gia phát triển trên thế giới; bên cạnh đó, còn phải đáp ứng một số tiêu chí khác đang đóng vai trò quan trọng và rất cần thiết trong thời điểm hiện nay, đó là: tính minh bạch, tính công khai, tính dễ tiếp cận của pháp luật về sử dụng các CCKT trong BVMT.

5. Nguồn của pháp luật về sử dụng các công cụ kinh tế trong bảo vệ môi trường

Trong việc thực hiện các quy phạm pháp luật về BVMT nói chung cũng như nghiên cứu khoa học pháp lý về sử dụng các CCKT trong BVMT, vấn đề quan trọng là cần xác định được những văn bản pháp luật chứa đựng các quy phạm pháp luật đó, tức là xác định nguồn của pháp luật về sử dụng các CCKT trong BVMT. Dưới góc độ pháp lý, đây là những văn bản quy phạm pháp luật do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành hoặc phê chuẩn theo những thủ tục, trình tự và dưới những hình thức nhất định, có nội dung chứa đựng những quy phạm pháp luật về sử dụng các CCKT trong BVMT. Trên thực tế, khi nghiên cứu nguồn của bất kỳ ngành luật nào trong những thời điểm nhất định chúng ta cần xem xét những văn bản có hiệu lực thi hành ở thời điểm đó.

Nguồn của pháp luật về sử dụng các CCKT trong BVMT bao gồm hệ thống những văn bản pháp luật do nhiều cơ quan có thẩm quyền của Nhà nước Việt Nam ban hành. Cũng như nguồn của nhiều ngành luật, lĩnh vực khác, nguồn của pháp luật về sử dụng các CCKT trong BVMT rất đa dạng về hình thức. Nhiều quy phạm pháp luật được ban hành trong văn bản pháp luật chung và văn bản pháp luật riêng về lĩnh vực môi trường. Chính vì vậy, việc xác định nguồn của pháp luật về sử dụng các CCKT trong BVMT có ý nghĩa trong việc xác định hiệu lực của các quy phạm pháp luật.

Công cụ pháp lý được xem là công cụ hữu hiệu và mang lại kết quả nhanh, là một trong những công cụ không thể thiếu trong chiến lược quản lý và BVMT. Hơn thế nữa, hoạt động BVMT không chỉ dừng lại trong phạm vi một quốc gia mà còn ở quy mô quốc tế. Các văn bản luật quốc tế về môi trường được hình thành một cách chính thức từ thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX, giữa các quốc gia Châu Âu, Châu Mỹ, Châu Phi. Từ hội nghị quốc tế về “Môi trường con người” tổ chức năm 1972 tại Thụy Điển và sau Hội nghị thượng đỉnh Rio 92 ở Brazil đã có rất nhiều văn bản về luật quốc tế được soạn thảo và ký kết. Cho đến nay, đã có hàng ngàn văn bản luật quốc tế về môi trường, trong đó nhiều văn bản đã được Chính phủ Việt Nam tham gia ký kết như: Công ước Chicago về hàng không dân dụng quốc tế (1944); Thoả thuận về thiết lập Uỷ ban nghề cá Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương (1948); Hiệp ước về khoảng không ngoài vũ trụ (1967); Công ước về các vùng đất ngập nước có tầm quan trọng quốc tế, đặc biệt như là nơi cư trú của các loài chim nước – RAMSAR (1971 và 1988); Nghị định thư bổ sung Công ước về các vùng ngập nước có tầm quan trọng, đặc biệt như là nơi cư trú của các loài chim nước (Paris 1982); Công ước liên quan đến bảo vệ các di sản văn hoá và tự nhiên (1982); Công ước về cấm phát triển, sản xuất và tàng trữ vũ khí hoá học, vi trùng và việc tiêu huỷ chúng; Công ước về buôn bán quốc tế về các giống loài động thực vật có nguy cơ bị đe dọa (1973 và 1994); Công ước về ngăn ngừa ô nhiễm do tàu biển MARPOL (29/8/1991); Công ước của Liên hợp quốc về sự biến đổi môi trường (26/8/1980); Nghị định thư Chữ thập đỏ liên quan đến bảo vệ nạn nhân của các cuộc xung đột vũ trang; Công ước của Liên hợp quốc về Luật biển (25/7/1994); Cam kết quốc tế về phổ biến và sử dụng thuốc diệt côn trùng (FAO 1985); Công ước Viên về bảo vệ tầng ozone (1985 và 1994); Công ước về thông báo sớm sự cố hạt nhân (IAEA 1985 và 1987); Công ước về trợ giúp trong trường hợp sự cố hạt nhân hoặc cấp cứu phóng xạ (IAEA 1986 và 1987); Nghị định thư Montreal về các chất làm suy giảm tầng ô-zôn (1987 và 1984); Bản bổ sung London cho công ước London (1990); Bản bổ sung Copenhagen (1992); Thoả thuận về mạng lưới các trung tâm thuỷ sản ở Châu Á – Thái Bình Dương (1988 và 1989); Công ước Basel về kiểm soát việc vận chuyển qua biên giới chất thải độc hại và việc loại bỏ chúng (13/5/1995); Công ước khung của Liên hợp quốc về biến đổi khí hậu (1992 và 1994); Công ước về Đa dạng sinh học (1992 và 1994).

Trong phạm vi quốc gia, vấn đề môi trường đã được đề cập trong nhiều văn bản pháp luật, trong đó Luật BVMT năm 1993 là văn bản quan trọng nhất. Để cụ thể hóa, Chính phủ đã ban hành Nghị định 175/CP ngày 18/10/1994 hướng dẫn thi hành Luật BVMT. Năm 2005, Luật BVMT được thông qua ngày 29/11/2005 đã thay thế cho Luật BVMT năm 1993. Luật BVMT năm 2005 quy định những hành vi vi phạm pháp luật về BVMT, giữ gìn vệ sinh môi trường nơi công cộng bị xử lý bằng các biện pháp: phạt tiền, buộc lao động vệ sinh môi trường có thời hạn ở nơi công cộng, tạm giữ phương tiện có liên quan gây ra ô nhiễm môi trường (Điều 52). Ngày 31/12/2009, Chính phủ cũng đã ban hành Nghị định số 117/2009/NĐ-CP về xử lý vi phạm pháp luật trong lĩnh vực BVMT và ngày 14/11/2013, Chính Phủ ban hành Nghị định số 179/2013/NĐ-CP về xử lý vi phạm pháp luật trong lĩnh vực bảo vệ môi trường thay thế Nghị định 117/2009/NĐ – CP. Bộ luật Hình sự (BLHS) năm 1985 quy định về tội vi phạm các quy định về BVMT gây hậu quả nghiêm trọng và một số tội khác có liên quan như: tội vi phạm các quy định về bảo vệ đất đai (Điều 180), tội vi phạm các quy định về quản lý và bảo vệ rừng (Điều 181), tội vi phạm các quy định về chất cháy, chất nổ, chất phóng xạ (Điều 192), tội vi phạm các quy định về vệ sinh thực phẩm gây hậu quả nghiêm trọng (Điều 197)… và tiếp tục được quy định trong BLHS năm 1999 với một chương riêng (Chương XVII) quy định các tội phạm về môi trường; Luật sửa đổi bổ sung một số điều của BLHS năm 2009 bổ sung thêm một số điều cụ thể hơn trong lĩnh vực môi trường như: tội gây ô nhiễm môi trường (Điều 182); tội vi phạm quy định về quản lý chất thải nguy hại (Điều 182a); tội vi phạm quy định về phòng ngừa sự cố môi trường (Điều 182b); tội đưa chất thải vào lãnh thổ Việt Nam (Điều 185); tội làm lây lan dịch bệnh nguy hiểm cho người (Điều 186); tội làm lây lan dịch bệnh nguy hiểm cho động vật, thực vật (Điều 187); tội huỷ hoại nguồn lợi thuỷ sản (Điều 188); tội huỷ hoại rừng (Điều 189); tội vi phạm các quy định về bảo vệ động vật thuộc danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ (Điều 190); tội vi phạm các quy định về quản lý khu bảo tồn thiên nhiên (Điều 190); tội nhập khẩu, phát tán các loài ngoại lai xâm hại (Điều 191a) và hàng loạt các Thông tư, Quyết định của các ngành chức năng về thực hiện pháp luật BVMT đã được ban hành. Một số tiêu chuẩn môi trường chủ yếu được soạn thảo và thông qua. Nhiều khía cạnh BVMT cũng được đề cập trong các văn bản khác như Luật Khoáng sản, Luật Dầu khí, Bộ luật Hàng hải, Bộ luật Lao động, Luật Đất đai, Luật Bảo vệ và phát triển rừng, Luật Bảo vệ sức khoẻ của nhân dân, Pháp lệnh về đê điều, Pháp lệnh về việc bảo vệ nguồn lợi thuỷ sản, Pháp lệnh bảo vệ các công trình giao thông. Riêng đối với hệ thống văn bản pháp luật liên quan đến trách nhiệm tài chính của các chủ thể đối với môi trường thì được đề cập đến trong nhiều văn bản như Luật Thuế tiêu thụ đặc biệt (1998, 2005, 2008), Luật Thuế tài nguyên (2008), Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp (2005, 2008), Luật Thuế BVMT (2012) … Hiện nay, Việt Nam cũng đã xây dựng được một số văn bản quy phạm pháp luật quy định về thuế, phí BVMT để triển khai áp dụng phù hợp với đặc điểm kinh tế – xã hội của Việt Nam. Cụ thể:

Luật Thuế BVMT 

Phí môi trường: bao gồm

Phí BVMT đối với nước thải

Phí BVMT đối với nước thải chia thành 2 loại phí là: phí BVMT đối với nước thải sinh hoạt, phí BVMT đối với nước thải công nghiệp được quy định trong các văn bản sau:

– Nghị định 67/NĐ-CP về thu phí BVMT đối với nước thải được Thủ tướng Chính phủ ký ban hành từ giữa tháng 6 năm 2003 và có hiệu lực từ ngày 1/1/2004. 

– Nghị định số 04/2007/NĐ-CP ngày 08/11/2007 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều Nghị định số 67/2003/NĐ – CP ngày 13/6/2003 của Chính phủ về phí BVMT đối với nước thải.

– Nghị định số 26/2010/NĐ-CP ngày 22/03/2010 về việc sửa đổi, bổ sung một số điều Nghị định số 67/2003/NĐ-CP 

– Nghị định số 25/2012/NĐ – CP ngày 29/3/2013 về phí BVMT đối với nước thải.

–  Thông tư liên tịch 125/2003/TTLT-BTC-BTNMT hướng dẫn thực hiện Nghị định 67.

–  Thông tư liên tịch 106/2007/TTLT/BTC-BTNMT sửa đổi, bổ sung Thông tư liên tịch 125/2003/TTLT-BTC-BTNMT. 

–  Nghị định 04/2007/NĐ-CP ngày 8/1/2007 về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 67/2003/NĐ-CP. 

– Nghị định số 26/2010/NĐ-CP ngày 22/03/2010 về việc sửa đổi, bổ sung một số điều Nghị định số 67/2003/NĐ-CP

Phí BVMT đối với chất thải rắn:

Phí BVMT đối với chất thải rắn (CTR) được triển khai thực hiện bắt đầu từ năm 2007 và được quy định cụ thể trong các văn bản sau:

– Nghị định 174/2007/NĐ-CP của Chính phủ ngày 29/11/2007 về phí bảo vệ môi trường đối với chất thải rắn;

–  Thông tư 39/2008/TT-BTC ngày 9/5/2008 của Bộ Tài chính

Phí BVMT đối với khai thác khoáng sản:

Phí BVMT đối với hoạt động khai thác khoáng sản được thực hiện bắt đầu từ năm 2006, áp dụng đối với hoạt động khai thác khoáng sản kim loại và phi kim loại và được quy định cụ thể trong văn bản Nghị định số 74/2011/NĐ – CP ngày 25/8/2011 của Chính phủ về phí bảo vệ môi trường đối với khai thác khoáng sản.

Đặt cọc – hoàn trả 

Ký quỹ môi trường

Ở Việt Nam, công cụ ký quỹ môi trường hiện nay đang được áp dụng chủ yếu trong hoạt động khai thác khoáng sản nhằm đảm bảo trách nhiệm phục hồi môi trường trong khai thác tài nguyên. Môi trường khoáng sản là một trong những lĩnh vực đã thực hiện kinh tế hóa khá sớm ở nước ta với những quy định về phí BVMT và cải tạo phục hồi môi trường trong quá trình khai thác khoáng sản theo Luật Khoáng sản năm 1996. Ngoài ra, ký quỹ môi trường trong khai thác khoáng sản còn được quy định cụ thể trong các văn bản pháp luật sau:

– Thông tư liên bộ 126/1999/TTLT – BTC – BCN – KHCN&MT ngày 22/10/1999 của  Bộ Tài chính – Bộ Công nghiệp – Bộ Khoa học Công nghê và Môi trường hướng dẫn  việc ký quỹ để phục hồi môi trường trong khai thác khoáng sản.

– Quyết định 71/QĐ-TTg ngày 29/5/2008 của Thủ tướng Chính phủ về ký quỹ cải tạo, phục hồi môi trường đối  với hoạt động khai thác khoáng sản (thay thế Thông tư 126/1999/TTLT – BTC-BCN- KHCN&MT).

– Thông tư 34/2009/TT-BTNMT ngày 31 tháng 12 năm 2009 của Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định về việc phê duyệt, kiểm tra, xác nhận Dự án cải tạo, phục hồi môi trường và ký quỹ cải tạo, phục hồi môi trường đối với hoạt động khai thác khoáng sản. Thông tư nàý cũng quy định chi tiết một số nội dung của Quyết định 71/2008/QĐ-TTg ngày 29/5/2008 của Thủ tướng Chính phủ về ký quỹ cải tạo, phục hồi môi trường đối với hoạt động khai thác khoáng sản.

Bên cạnh đó, để có kế hoạch khai thác nguồn lợi thủy hải sản ven bờ bền vững, đồng thời hạn chế và giảm thiểu ô nhiễm vùng ven biển, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định 358/TTg ngày 29/5/1997 về ưu đãi đối với hoạt động khai thác hải sản ở vùng biển xa bờ. Theo đó, các tổ chức, cá nhân có tàu, thuyền hoạt động khai thác hải sản ở vùng biển xa bờ được hưởng một số ưu đãi về thuế tài nguyên, thuế giá trị gia tăng, thuế thu nhập doanh nghiệp và lệ phí trước bạ.

Hệ thống các văn bản pháp luật trong nước và quốc tế đã được Nhà nước Việt Nam phê duyệt là cơ sở quan trọng để thực hiện công tác quản lý Nhà nước về BVMT. Hiện nay, Việt Nam đang tiếp tục nghiên cứu hoàn thiện chính sách thuế, phí, các chính sách khác liên quan đến môi trường nhằm tăng cường hơn nữa công tác quản lý, kiểm soát và BVMT, hạn chế ô nhiễm, suy thoái môi trường, đảm bảo phát triển kinh tế – xã hội bền vững.