Categories
Main

Một số vấn đề lý luận về giải quyết việc làm ở nông thôn

Nhanlamluanvan.com xin chia sẻ đến bạn một số vấn đề lý luận về giải quyết việc làm ở nông thôn.

Một số vấn đề lý luận về giải quyết việc làm ở nông thôn

>>> Xem thêm: Khái niệm và các yếu tố tác động đến giảm nghèo bền vững

1. Một số khái niệm cơ bản liên quan đến giải quyết việc làm

Dân số: 

Dân số là cơ sở để hình thành lực lượng lao động. Dân số biến động có tác động trực tiếp hoặc gián tiếp đến quy mô, cơ cấu cũng như sự phân bố theo không gian của dân số trong độ tuổi lao động. 

Theo nghĩa rộng: Dân số là tập hợp những người cư trú thường xuyên và sống trên một lãnh thổ nhất định (một quốc gia, một vùng lãnh thổ kinh tế, một đơn vị hành chính). 

Theo nghĩa hẹp: Dân số là một tập hợp người hạn định trong phạm vi nào đó (về lãnh thổ và xã hội có tính chất gắn liền với sự tái sản xuất liên tục của nó).

Lao động: 

Lực lượng lao động: Trên thế giới có nhiều quan niệm khác nhau về lực lượng lao động. 

Từ điển thuật ngữ trong lĩnh vực lao động của Liên Xô (cũ), (Matxcơva 1997, tiếng nga) lực lượng lao động là khái niệm định lượng của lao động.

Từ điển thuật ngữ Pháp (1997-1985) lực lượng lao động là số lượng và chất lượng những người lao động được quy đổi theo các tiêu chuẩn trung bình về khả năng lao động có thể sử dụng. 

Nhà kinh tế học DaVid Begg cho rằng: Lực lượng lao động có đăng ký bao gồm số người có công ăn việc làm cộng với số người thất nghiệp có đăng ký.

Theo tổ chức lao động của (ILO): Lực lượng lao động là một bộ phận dân số trong độ tuổi quy định, thực tế có tham gia lao động và những người không có việc làm đang tích cực tìm kiếm việc làm.

Theo thuật ngữ về lĩnh vực lao động của Bộ Lao động Thương binh và Xã hội thì lực lượng lao động là những người đủ 15 tuổi trở lên có việc làm và những người thất nghiệp. Lực lượng lao động đồng nghĩa với dân số hoạt động kinh tế; lực lượng lao động là bộ phận hoạt động của nguồn lao động [6, tr.11].

Từ những quan niệm của các nhà nghiên cứu trên thế giới và Việt Nam, chúng tôi đưa ra quan niệm về lực lượng lao động như sau: Lực lượng lao động bao gồm toàn bộ những người từ đủ 15 tuổi trở lên đang có việc làm hoặc không có việc làm, nhưng có nhu cầu làm việc và sẵn sàng làm việc. 

Lao động: Khái niệm về lao động có nhiều cách tiếp cận khác nhau nhưng suy đến cùng, lao động là hoạt động đặc thù của con người, là ranh giới để phân biệt con người với con vật. Bởi vì, khác với con vật, lao động của con người là hoạt động có mục đích, có ý thức tác động vào thế giới tự nhiên nhằm cải biến những vật thể của tự nhiên thành sản phẩm phục vụ cho nhu cầu đời sống của con người. Theo C.Mác: “Lao động trước hết là một quá trình diễn ra giữa con người và tự nhiên, một quá trình trong đó bằng hoạt động của chính mình, con người làm trung gian, điều tiết và kiểm tra sự trao đổi chất giữa họ và tự nhiên” [36, tr.230, 321].

Nguồn lao động và lực lượng lao động: 

Nguồn lao động và lực lượng lao động là những khái niệm có ý nghĩa quan trọng làm cơ sở cho việc tính toán cân đối lao động, việc làm trong xã hội. Theo giáo trình Kinh tế phát triển của trường Đại học Kinh tế quốc dân (2005) đưa ra khái niệm “Nguồn lao động là bộ phận dân số trong độ tuổi lao động theo quy định của pháp luật có khả năng lao động, có nguyện vọng tham gia lao động và những người ngoài độ tuổi lao động (trên độ tuổi lao động) đang làm việc trong các ngành kinh tế quốc dân” [5, tr.167]. 

Việc quy định độ tuổi lao động tuỳ mỗi nước có quy định khác nhau, thậm chí khác nhau ở các giai đoạn của mỗi nước. Điều đó tuỳ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế. ở nước ta, theo quy định của Bộ Luật lao động (2002) độ tuổi lao động đối với nam từ 15-60 tuổi và nữ là từ 15-55 tuổi. Nguồn lao động luôn được xem xét trên hai mặt, biểu hiện đó là số lượng và chất lượng. 

Số lượng lao động: Là toàn bộ những người trong độ tuổi lao động có khả năng lao động gồm: Dân số đủ 15 tuổi trở lên có việc làm và dân số trong độ tuổi lao động có khả năng lao động nhưng đang thất nghiệp, đang đi học, đang làm công việc nội trợ trong gia đình, không có nhu cầu việc làm và những người thuộc tình trạng khác (bao gồm cả những người nghỉ hưu trước tuổi quy định). 

Chất lượng lao động: Cơ bản đánh giá ở trình độ chuyên môn, tay nghề (trí lực) và sức khoẻ (thể lực) của người lao động.

2. Vai trò của giải quyết việc làm cho người lao động đối với sự phát triển kinh tế – xã hội ở nông thôn

Giải quyết việc làm cho người lao động có ý nghĩa quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế – xã hội. Bởi vì, con người là mục tiêu, động lực của sự phát triển kinh tế và là yếu tố tạo ra lợi ích kinh tế – xã hội. 

Lý luận và thực tiễn đã khẳng định: Bất kỳ một quá trình sản xuất nào cũng đều là sự kết hợp của ba yếu tố cơ bản đó là sức lao động, tư liệu lao động và đối tượng lao động. Đó là những yếu tố vật chất cho quá trình lao động diễn ra. Thực vậy, tư liệu sản xuất tự nó không thể tạo ra các sản phẩm phục vụ cho nhu cầu cần thiết của con người và xã hội, nếu như không có sự kết hợp của sức lao động. 

C.Mác và Ph.Ăngghen khi nghiên cứu vai trò của sản xuất xã hội và các yếu tố cơ bản của quá trình lao động sản xuất đã cho rằng: Sản xuất ra của cải vật chất là cơ sở của đời sống xã hội loài người và là hoạt động cơ bản nhất trong tất cả các hoạt động của con người. 

Ngày nay, con người với trình độ khoa học – công nghệ cao là một thành tố quan trọng của lực lượng sản xuất cũng như trong công cuộc xây dựng đổi mới đất nước. Các chính sách của Đảng và Nhà nước ta là chăm sóc, bồi dưỡng và phát huy nhân tố con người với tư cách vừa là động lực, vừa là mục tiêu chung của cách mạng. Đảng ta coi việc phát huy nhân tố con người như là một nguồn lực quan trọng nhất của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Đây chính là nguồn tài nguyên vô giá, nguồn nội lực dồi dào cần được chăm sóc để phát triển. Đầu tư vào con người và phát huy nguồn lực con người là yếu tố cơ bản để phát triển nhanh và bền vững. 

Việc làm đối với người lao động là nhu cầu để tồn tại và phát triển, là yếu tố khách quan của người lao động. Con người tồn tại phải được tiêu dùng một lượng tư liệu sinh hoạt nhất định như: Thức ăn, đồ mặc, nhà ở, học tập, phương tiện đi lại… Để có những thứ đó con người phải sản xuất và tái sản xuất với quy mô ngày càng mở rộng. Như vậy, để tồn tại và phát triển con người bằng sức lao động của mình, là yếu tố của quá trình sản xuất, là lực lượng sản xuất cơ bản nhất tạo ra giá trị hàng hoá dịch vụ. 

Sự phát triển kinh tế – xã hội, suy cho cùng, là nhằm mục tiêu phục vụ con người làm cho cuộc sống mỗi người ngày càng tốt đẹp hơn, xã hội ngày càng văn minh hơn. 

Từ lý luận và thực tiễn đã chứng minh có ba điều kiện cơ bản nhất để phát triển con người là: phải đảm bảo an toàn lương thực, an toàn việc làm và an toàn môi trường. 

Giải quyết việc làm là cơ sở để phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội góp phần thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Vì vậy, giải quyết việc làm không chỉ là trách nhiệm của cơ quan trực tiếp quan hệ đến lao động, việc làm mà còn là trách nhiệm của tất cả các cấp, các ngành, các tổ chức xã hội, các doanh nghiệp và cả bản thân người lao động. Điều 13, Bộ Luật lao động Nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã nêu rõ: “Giải quyết việc làm, đảm bảo cho mọi người có khả năng lao động đều có việc làm là trách nhiệm của nhà nước, của các doanh nghiệp và của toàn xã hội” [43, tr.42].

Nước ta đến nay vẫn còn 62 triệu người sống ở nông thôn, trong đó độ

tuổi lao động là 43,26 triệu người chiếm 75,18% lực lượng lao động, nguồn thu nhập chính là nông nghiệp. Đặc điểm của lao động nông thôn là tăng nhanh, ít qua đào tạo, đa dạng về lứa tuổi, sử dụng theo thời vụ, có nhiều cơ hội tìm việc làm nhưng giá tiền công lại rẻ, di chuyển lao động và một bộ phận lao động tự do. 

Sau 20 năm thực hiện đường lối đổi mới, sản xuất nông nghiệp đã phát triển tương đối toàn diện theo hướng sản xuất hàng hoá và đạt được tốc độ tăng trưởng cao. Trong quá trình công nghiệp hoá và đô thị hoá, nhiều vùng nông thôn biến thành đô thị, nhiều diện tích đất nông nghiệp biến thành các khu công nghiệp, đường giao thông, trung tâm thương mại và đất khu dân cư. Tính chung, trong 10 năm 1995-2005 trung bình mỗi năm cả nước mất khoảng 50 nghìn ha đất nông nghiệp cho các nhu cầu phi nông nghiệp. Trong khi đó lao động nông nghiệp đã dư thừa trên 23% và số lượng cứ tăng dần với tốc độ 2%/năm. Năm 2001, lao động nông thôn, nông nghiệp có 24,72 triệu người, chiếm 80% lao động nông thôn; năm 2005 tăng lên gần 27 triệu người. Như vậy, trung bình mỗi năm lao động nông nghiệp tăng thêm khoảng 45 vạn người. Trong khi đó diện tích đất nông nghiệp lại giảm xuống kéo theo giảm việc làm cho nông dân. Ruộng đất ít, lao động thừa, việc làm thiếu và thu nhập thấp, đời sống nông dân còn nghèo, khoảng cách chênh lệch nông thôn và thành thị có xu hướng gia tăng. Vì vậy, vấn đề đặt ra hiện nay là làm thế nào để tạo việc làm mới cho lao động nông thôn nói chung, nông dân nói riêng là mối quan tâm hàng đầu trong chiến lược phát triển kinh tế – xã hội.

3. Các nhân tố ảnh hưởng đến giải quyết việc làm cho người lao động ở nông thôn

Nhân tố về điều kiện tự nhiên, môi trường sinh thái:

Nếu điều kiện tự nhiên, môi trường sinh thái thuận lợi, sẽ có nhiều dự án, nhiều chương trình kinh tế – xã hội đầu tư và như vậy nơi đây sẽ có điều kiện hơn trong giải quyết việc làm cho người lao động. Ngược lại, không thể có sự thuận lợi trong giải quyết việc làm tại chỗ đối với người lao động sống ở những nơi điều kiện tự nhiên bất lợi (sa mạc, vùng băng giá, vùng núi cao, hải đảo…). 

Giải quyết việc làm vừa là nhiệm vụ bức xúc, vừa là chiến lược lâu dài. Vấn đề đặt ra là phải bảo đảm cho môi trường nhân tạo hoà hợp với môi trường thiên nhiên, coi đây là một mục tiêu chính quan trọng trong giải quyết việc làm. Đồng thời, phải có giải pháp khắc phục tác động với thiên tai, sự biến động khí hậu bất lợi và hậu quả chiến tranh còn lại đối với môi trường sinh thái nước ta. Vấn đề này cần được xuyên suốt trong toàn bộ chiến lược về việc làm thể hiện trong từng vùng, từng ngành, từng lĩnh vực, từng cộng đồng dân cư để con người thực sự làm chủ được mô trường sống của mình hoặc hạn chế được đến mức thấp nhất những tác động xấu do biến động môi trường. Như vậy, bảo vệ và cải thiện môi trường không chỉ là mục tiêu trong giải quyết việc làm mà còn là điều kiện để phát triển bền vững. 

Nhân tố về dân số:

Dân số, lao động, việc làm và nguồn nhân lực là yếu tố quyết định đến sự phát triển kinh tế – xã hội của đất nước. Tăng trưởng dân số với tốc độ và quy mô hợp lý là nguồn cung cấp nguồn nhân lực vô giá. Tuy nhiên, nếu dân số phát triển quá nhanh, quy mô phát triển lớn vượt khả năng đáp ứng và yêu cầu của xã hội, thì tăng trưởng dân số không phải là yếu tố tích cực mà lại là gánh nặng cho nền kinh tế. 

Mức sinh, mức chết, cơ cấu giới, tuổi của dân số đều ảnh hưởng đến quy mô của lực lượng lao động. Nếu mức sinh cao dẫn đến gia tăng nhanh chóng số lượng người trong độ tuổi lao động tương lai.

Ngoài ra, vấn đề di dân và các dòng di dân, đặc biệt là di dân từ nông thôn ra đô thị gây ra các áp lực kinh tế – xã hội và chính trị còn nguy hiểm hơn so với tỷ lệ gia tăng dân số nhanh chóng. Quá trình đô thị hoá gây ra hậu quả trực tiếp đến vấn đề việc làm, để có thể thu hút hết số lao động này, cần phải nhanh chóng tạo ra một số lượng lớn chỗ làm việc. Hơn nữa chất lượng của số lao động này về học vấn, đào tạo, trình độ nghề nghiệp không đáp ứng được với yêu cầu công việc trong khu đô thị. Do đó tỷ lệ thất nghiệp, thiếu việc làm sẽ cao lên.

Trong kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội, việc khống chế mức tăng dân số được gắn với vấn đề giảm áp lực đối với việc làm. Vấn đề dân số thường được gắn với vấn đề sử dụng nguồn lao động và giải quyết việc làm. Nhìn chung, giảm tỷ lệ gia tăng dân số cũng có nghĩa là có sự đầu tư cao hơn vào các lĩnh vực giáo dục, sức khoẻ và các dịch vụ xã hội. 

ở nước ta, nhân tố dân số đã được Đảng và Nhà nước ta thể hiện trong kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội từng thời kỳ. Đặt con người vào vị trí trung tâm trong chiến lược phát triển xã hội, con người vừa là mục tiêu, và động lực cho sự phát triển. Tuy nhiên, khi nguồn lực này tăng quá nhanh lại chưa sử dụng hết sẽ là lực cản, gây sức ép về đời sống và việc làm. 

Nhân tố về chính sách vĩ mô: 

Để giải quyết việc làm cho người lao động, vấn đề quan trọng nhất là nhà nước phải tạo các điều kiện và môi trường thuận lợi để người lao động tự tạo việc làm trong cơ chế thị trường thông qua những chính sách cụ thể. Có thể có nhiều chính sách tác động trực tiếp hoặc gián tiếp đến việc làm, hợp thành một hệ thống chính sách hoàn chỉnh có quan hệ qua lại, bổ xung cho nhau hướng vào phát triển cả cung và cầu về lao động, đồng thời làm cho cung và cầu phù hợp với nhau. Thực chất là tạo ra sự phù hợp giữa cơ cấu kinh tế và cơ cấu lao động.  

Nhóm chính sách khuyến khích phát triển những lĩnh vực, hình thức và vùng có khả năng thu hút được nhiều lao động trong cơ chế thị trường như: Chính sách phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ, chính sách phát triển khu vực phi kết cấu, chính sách di dân và phát triển vùng kinh tế mới, chính sách đưa lao động đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài, chính sách khôi phục và phát triển làng nghề…

Nhóm chính sách việc làm cho các đối tượng là người có công và chính sách xã hội đặc biệt khác như: Thương binh, bệnh binh, gia đình liệt sĩ, người tàn tật, đối tượng xã hội…. 

Chính sách việc làm thuộc hệ thống chính sách xã hội, nhưng phương thức và biện pháp giải quyết việc làm mang nội dung kinh tế đồng thời liên quan đến những vấn đề thuộc về tổ chức sản xuất kinh doanh như: Tạo môi trường pháp lý, vốn, lựa chọn và chuyển giao công nghệ, cơ sở hạ tầng, thị trường tiêu thụ sản phẩm… 

Nhân tố liên quan đến giáo dục – đào tạo và khoa học – công nghệ: 

Về giáo dục – đào tạo: 

Tiềm năng kinh tế của một đất nước phụ thuộc vào trình độ khoa học – công nghệ của đất nước đó. Trình độ khoa học – công nghệ lại phụ thuộc vào các điều kiện giáo dục. Giáo dục – đào tạo giúp cho người lao động có đủ tri thức, năng lực, sẵn sàng đáp ứng mọi yêu cầu của công việc. Người lao động qua quá trình đào tạo sẽ có nhiều cơ hội để thực hiện các công việc mà xã hội phân công sắp xếp. 

Giáo dục và đào tạo là động lực thúc đẩy, là điều kiện cơ bản để đảm bảo việc thực hiện những mục tiêu kinh tế – xã hội. Giáo dục và đào tạo nhằm vào định hướng phát triển, trước hết cung cấp cho xã hội một lực lượng lao động mới đủ về số lượng, nâng cao chất lượng và phát huy hiệu quả để đảm bảo việc thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. 

Về Khoa học – công nghệ:

Khoa học – công nghệ đã làm biến đổi cơ cấu đội ngũ lao động. Bên cạnh những ngành nghề truyền thống đã xuất hiện những ngành nghề mới, cùng với nó là xu hướng tri thức hoá công nhân, chuyên môn hoá lao động, giảm bớt lao động chân tay nặng nhọc.

Trong nền kinh tế phát triển, người lao động muốn thích ứng với các công việc xã hội yêu cầu. Trước hết, họ phải là những người được trang bị nhất định về khoa học – công nghệ. Tuy nhiên, trong thực tế ở những nước sản xuất kém phát triển thường có mâu thuẫn: Nếu công nghệ sản xuất tiên tiến với các dây chuyền sản xuất tự động hoá, chuyên môn hoá cao thì trình độ người lao động chưa bắt kịp dễ dẫn đến tình trạng một bộ phận người lao động bị gạt ra khỏi quá trình sản xuất kinh doanh. Vì thế, bên cạnh công việc đào tạo nâng cao trình độ lành nghề cho người lao động, vấn đề lựa chọn áp dụng mức độ công nghệ nào trong dây chuyền kinh doanh phải tính toán thận trọng. Bởi vì, chính sách khoa học – công nghệ có tác động mạnh mẽ đến vấn đề giải quyết việc làm cho người lao động. 

Nhân tố toàn cầu hoá, hội nhập kinh tế quốc tế: 

Toàn cầu hoá đặt ra những thách thức và những nguy cơ lớn đối với tình trạng việc làm ở tất cả các nước trên thế giới. Số lượng việc làm ở khu vực này có thể tăng lên nhưng lại giảm đi ở khu vực khác, một số loại việc làm sẽ mất đi nhưng một số loại việc làm mới xuất hiện. 

Những biến đổi về quy mô và cơ cấu việc làm, sẽ gây không ít khó khăn và những chi phí lớn của cá nhân gia đình và toàn xã hội. Do mất việc làm người lao động phải tìm chỗ làm việc mới, phải học tập những kiến thức và kỹ năng mới, phải di chuyển từ nơi này đến nơi khác để tìm việc làm, phải thích nghi với những điều kiện sống luôn thay đổi. Điều đó, đã gây gánh nặng về đào tạo lại, trợ cấp xã hội, trợ cấp thất nghiệp do chính phủ phải gánh chịu. 

Trong điều kiện thế giới ngày nay, để khai thác và sử dụng tốt các yếu tố bên ngoài, đồng thời phải phát huy tối đa nội lực, kết hợp nội lực với ngoại lực thành sức mạnh tổng hợp trong giải quyết việc làm một cách năng động, hiệu quả, bền vững, tránh được những rủi ro. Cần có những nghiên cứu mang tính hệ thống tình hình thế giới, khu vực và các mối quan hệ giữa các điều kiện bên trong và bên ngoài, nhận thức và vận dụng đúng đắn quan hệ đó khi xây dựng chiến lược việc làm.