Categories
Main

Khái niệm và các yếu tố tác động đến giảm nghèo bền vững

Nhanlamluanvan.com xin chia sẻ đến bạn khái niệm và các yếu tố tác động đến giảm nghèo bền vững.

Khái niệm và các yếu tố tác động đến giảm nghèo bền vững

>>> Xem thêm: Một số vấn đề lý luận về giải quyết việc làm ở nông thôn

1. Khái niệm nghèo, giảm nghèo và giảm nghèo bền vững

1.1. Khái niệm nghèo

Có nhiều quan niệm, khái niệm về nghèo – theo Waltts (1968), nghèo được hiểu là thiếu khả năng thỏa mãn đối với các loại hàng hóa thông thường; theo Sen (1987), nghèo là thiếu khả năng hoạt động và kém phát triển, nghèo đói là vấn đề đa chiều; theo Ủy ban Kinh tế – Xã hội khu vực Châu á và Thái bình dương (ESCAP), nghèo là tình trạng một bộ phận dân cư không có khả năng thỏa mãn những nhu cầu cơ bản của con người mà những nhu cầu ấy phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh  tế xã hội, phong tục tập quán của từng vùng và những phong tục ấy được xã hội thừa nhận; theo Ngân hàng phát triển châu á (ADB, 1999), nghèo là tình trạng thiếu những tài sản cơ bản và cơ hội mà mỗi người có quyền được hưởng; theo Ngân hàng thế giới (WB, 2000), nghèo là mất đi tình trạng no ấm; theo Abapia Sen, nghèo là một mức thu nhập thấp, là sự thiếu cơ hội lựa chọn tham gia vào quá trình phát triển của cộng đồng; theo Giáo trình Kinh tế Nguồn nhân lực [39, tr.457-458] [38] nghèo là tình trạng một bộ phận dân cư chỉ có thể thỏa mãn một phần nhu cầu tối thiểu cơ bản của cuộc sống và mức sống thấp hơn mức sống  trung bình của cộng đồng. 

Trong nhiều tài liệu, cụm từ “nghèo khổ“ hay “nghèo đói” cũng hay được sử dụng với nghĩa là nghèo. Mặc dù “đói“ là tình trạng không đủ nhu cầu về lương thực và thực phẩm hay còn gọi là “thiếu đói”7 hay là tình trạng một bộ phận dân cư có mức sống tối thiểu và thu nhập không đủ đảm bảo nhu cầu vật chất để duy trì cuộc sống; hay là tình trạng một người được cung cấp mức tiêu dùng năng lượng thấp hơn mức tối thiểu [39, tr.457]. 

Nghèo có thể được xem xét với nghĩa là nghèo tuyệt đối hay tương đối. Nghèo tuyệt đối là tình trạng một bộ phận dân cư không có khả năng thỏa mãn những nhu cầu cơ bản rất tối thiểu để duy trì cuộc sống như ăn, mặc, ở, nước sạch, vệ sinh môi trường và chăm sóc y tế, giáo dục, đi lại [39, tr.457]. Nghèo tương đối, hay nghèo so sánh là sự nghèo khổ thể hiện sự bất bình đẳng trong quan hệ phân phối của cải xã hội giữa các nhóm xã hội, các tầng lớp dân cư và vùng địa lý [39, tr.457].

Nghèo cũng có thể xem xét đơn chiều, như thu nhập, chi tiêu hay đa chiều. Nghèo đa chiều là nghèo được xem xét đồng thời thông qua nhiều khía cạnh không chỉ là thu nhập bao gồm các khía cạnh liên quan đến dinh dưỡng, sức khỏe, giáo dục, khả năng dễ bị tổn thương, không có quyền phát ngôn và không có quyền lực (WB, 2000); khả năng để đáp ứng các tiêu chuẩn đầy đủ các phúc lợi, về mức độ an ninh kinh tế, xã hội và con người, quyền dân sự và chính trị [58, tr.4]; sức khỏe, giáo dục và thu nhập ở cấp hộ gia đình [41]; giáo dục, dinh dưỡng, y tế, nhà ở, nước và vệ sinh, lao động trẻ em, giải trí, tham gia và bảo trợ xã hội [44]. 

Luận án sử dụng khái niệm nghèo trong Giáo trình Kinh tế Nguồn nhân lực của Trường Đại học Kinh tế quốc dân – “là tình trạng một bộ phận dân cư chỉ có thể thỏa mãn một phần nhu cầu tối thiểu cơ bản của cuộc sống và mức sống thấp hơn mức sống trung bình của cộng đồng xét trên mọi phương diện” [39, tr.457] làm khái niệm cơ sở của luận án. Tuy nhiên, khái niệm này đồng thời vừa phản ảnh nghèo tuyết đối: “chỉ có thể thỏa mãn một phần nhu cầu tối thiểu cơ bản của cuộc sống”, vừa phản ánh nghèo tương đối: “mức sống thấp hơn mức sống trung bình của cộng đồng”. Do vậy, luận án chỉ tập trung vào khía cạnh tuyệt đối của nghèo đói là “chỉ có thể thỏa mãn một phần cơ bản của cuộc sống” để vừa đảm bảo được nội hàm “nhu cầu tối thiểu cơ bản”, vừa thống nhất với khái niệm nghèo của ESCAP mà khái niệm này của ESCAP đã được sử dụng làm cơ sở tiếp cận và xây dựng chuẩn nghèo ở Việt Nam trong nhiều năm qua. Mặt khác, “nhu cầu tối thiểu” thực chất là những nhu cầu cơ bản nhất, không thể thiếu, ví dụ như ăn, mặc, ở. 

Để đo lường nghèo hay xác định được người nghèo, về lý thuyết, phải đo lường được tất cả các khía cạnh thiếu hụt hay sự không thỏa mãn tất cả các nhu cầu cơ bản. Ví dụ, thiếu hụt về nhu cầu ăn (dinh dưỡng, lương thực, thực phẩm,…), nhu cầu về mặc (đẹp, ấm,…), nhu cầu về ở (diện tích, chất lượng nhà ở),… 

Trên thực tế, do có sự tương quan khá chặt chẽ giữa mức thu nhập với mức độ tiêu dùng hay thỏa mãn những nhu cầu của con người; với xu hướng chung là mức thu nhập càng cao thì mức tiêu dùng càng cao và mức tiêu dùng này được hiểu là mức độ thỏa mãn các nhu cầu cơ bản càng cao; Chính vì vậy, chuẩn nghèo (tuyệt đối) thường được xác định trên cơ sở một mức thu nhập hay chi tiêu, mà với mức thu nhập hay chi tiêu đó có thể đảm bảo thỏa mãn được những nhu cầu cơ bản phù hợp trình độ phát triển kinh tế xã hội. Đây là cách xác định chuẩn nghèo phổ biến ở các nước trên thế giới trong những năm gần đây. Năm 1995, Hội nghị thượng đỉnh thế giới về phát triển xã hội tổ chức tại Copenhagen, Đan Mạch đã đưa ra một định nghĩa rất cụ thể về người nghèo theo nghĩa tuyệt đối: “người nghèo là tất cả những ai mà thu nhập thấp hơn dưới 1 đô la (USD PPP) mỗi ngày cho mỗi người, số tiền được coi như đủ để mua những sản phẩm thiết yếu để tồn tại”8. Chuẩn nghèo còn có thể được gọi là “đường nghèo”, “ngưỡng nghèo”, “tiêu chuẩn nghèo”. 

Tất cả các chuẩn nghèo ở Việt Nam là chuẩn nghèo tuyệt đối. Chuẩn nghèo được ban hành bởi các cơ quan nhà nước có thẩm quyền. 

Chuẩn nghèo quốc gia là chuẩn nghèo do Chính phủ ban hành, quy định và áp dụng thống nhất trên phạm vi toàn quốc. Chuẩn nghèo này được dùng để xác định đối tượng nghèo để thực hiện các chính sách, chương trình giảm nghèo của Chính phủ.

Chuẩn nghèo lương thực thực phẩm của TCTK được xác định bằng mức chi tiêu bình quân đầu người 1 năm tính theo thời giá đủ chi một lượng lương thực thực phẩm (LTTP) thiết yếu bảo đảm khẩu phần ăn duy trì tối thiểu lượng calo tiêu dùng một người trong một ngày là 2100 Kcal. Chuẩn nghèo này được dùng chủ yếu trong khảo sát mức sống dân cư Việt Nam.

Chuẩn nghèo chung của TCTK được xác định bằng mức chi tiêu bình quân đầu người 1 năm tính theo thời giá đủ chi một lượng LTTP thiết yếu bảo đảm khẩu phần ăn duy trì tối thiểu lượng calo tiêu dùng một người trong một ngày là 2100 Kcal cộng thêm một lượng tiêu dùng tối thiểu chi các mặt hàng phi LTTP như nhà ở, đồ dùng gia đình, học tập, y tế, văn hóa, giải trí, đi lại, thông tin liên lạc,.. Chuẩn nghèo này được dùng chủ yếu trong khảo sát mức sống dân cư Việt Nam.

Như vậy, ở Việt Nam cũng như nhiều nước khác, người nghèo, hộ nghèo  trên thực tế được xác định là cá nhân, hộ gia đình có mức thu nhập (bình quân đầu người) thấp hơn hoặc bằng chuẩn nghèo.

1.2. Khái niệm giảm nghèo

Trên  cơ sở  khái niệm  nghèo, khái niệm giảm nghèo được hiểu là giảm tình trạng dân cư chỉ có thể thỏa mãn một phần nhu cầu cơ bản của cuộc sống. Ở cấp độ cộng đồng, giảm nghèo này được hiểu là giảm số lượng hay tỷ lệ người hay hộ không thỏa mãn những nhu cầu cơ bản. Ở cấp hộ gia đình, giảm nghèo được hiểu là nâng cao mức độ thỏa mãn các nhu cầu cơ bản của hộ gia đình; hay còn gọi là thu hẹp khoảng cách nghèo [18]. 

Trên thực tế, chuẩn nghèo được thể hiện bằng một mức thu nhập cụ thể. Do vậy, giảm nghèo cũng có thể được hiểu là nâng cao thu nhập (để nâng cao mức độ thỏa mãn các nhu cầu cơ bản). 

Bản chất của giảm nghèo là cải thiện hay nâng cao mức độ thỏa mãn các nhu cầu cơ bản. Nhưng mục tiêu của giảm nghèo là phải thoát nghèo (vượt chuẩn nghèo). Do vây các hoạt động hỗ trợ giảm nghèo nếu chỉ đặt mục tiêu là cải thiện mức độ thỏa mãn các nhu cầu cơ bản là chưa đủ, mà cần phải xác định mục tiêu là thoát nghèo, có nghĩa là thỏa mãn các nhu cầu cơ bản ở mức độ cao (so với chuẩn). 

Ở cấp độ cộng đồng, giảm nghèo được xem trong một tổng thể, bao gồm  biến động tình trạng nghèo của nhiều hộ gia đình với các trạng thái khác nhau, như tái nghèo, nghèo kinh niên, thoát nghèo, cận nghèo,… Một số trạng thái nghèo liên quan này được khái niệm như sau: 

Tái nghèo: Là tình trạng một hộ gia đình hay người đã thoát nghèo nhưng lại rơi vào nghèo sau một thời gian nhất định, thường là dưới 3 năm [52]; hay những hộ đã thoát nghèo trong quá trình phát triển nhưng sau do nhiều lý do khách quan hay chủ quan lại rơi vào tình trạng nghèo [38, tr.416]. 

Nghèo mới: Là tình trạng hộ hay người được xác định là nghèo lần đầu hoặc không phải là lần đầu nhưng đã có thời gian thoát nghèo trước đó từ 3 năm trở lên [52]. 

Nghèo kinh niên: Là tình trạng người hay hộ được xác định là nghèo liên  tục trong nhiều năm, thường là từ 3 năm trở lên [52] – hay là hộ được xác định là nghèo cả trong 3 kỳ điều tra VHLSS, hay là hộ có trong danh sách hộ nghèo liên tiếp trong 4 năm (2007-2010).

Thoát nghèo: Là tình trạng một hộ trước thời điểm điều tra/rà soát là nghèo nhưng tại thời điểm điều tra/rà soát đã có mức thu nhập bình quân cao hơn chuẩn nghèo [52]. Như vậy, khi mức thu nhập bình quân đầu người của hộ cao hơn chuẩn nghèo thì hộ đó được coi là thoát nghèo. 

Cận nghèo: Là tình trạng một hộ hay người không nghèo nhưng có mức thu nhập bình quân đầu người gần (cận) với chuẩn nghèo. Ví dụ, theo hướng dẫn của  Bộ LĐTBXH, người cận nghèo là người có mức sống đo bằng thu nhập hoặc chi tiêu cao hơn từ 1 đến 1,3 lần chuẩn nghèo chung [4]; ở Việt Nam trong giai đoạn 2011-2015, chuẩn cận nghèo được quy định bằng 130% chuẩn nghèo.

1.3. Giảm nghèo bền vững

“Giảm nghèo bền vững” đã được một số nghiên cứu đề cập từ những năm trước 2000. Nhưng đến năm 2008 cụm từ “giảm nghèo bền vững” được sử dụng chính thức trong văn bản hành chính ở Việt Nam tại Nghị quyết số 30a/NQ-CP  ngày 27/12/2008 của Chính phủ về Chương trình hỗ trợ giảm nghèo nhanh và bền vững đối với 61 huyện nghèo; tiếp đó là Nghị quyết số 80/NQ-CP ngày 19/5/2010 của Chính phủ về Định hướng giảm nghèo bền vững giai đoạn 2011-2020; Quyết định số 1489/QĐ-TTg ngày 8/10/2012 của TTCP phê duyệt chương trình giảm nghèo bền vững giai đoạn 2012-2015 và Nghị quyết số 15-NQ/TW ngày 1/6/2012, Hội nghị BCH trung ương khóa XI về một số vấn đề về chính sách xã hội giai đoạn 2012-2020. Tính đến thời điểm này vẫn chưa có một định nghĩa hay khái niệm chính thức về “giảm nghèo bền vững”, nhưng trong các báo cáo (Báo cáo giảm nghèo quốc gia năm 2008, Báo cáo giảm nghèo giai đoạn 2006-2010, báo cáo thực hiện các mục tiêu thiên niên kỷ,…) hay các văn bản hành chính thì tình trạng tái nghèo luôn được xem là “vấn đề cơ bản” đối với giảm nghèo bền vững. 

“Bền vững“ là không lay chuyển được, là vững chắc [47]. Như vậy nên hiểu bền vững là một tiêu chuẩn hay một yêu cầu về sự “chắc chắn“ đối với kết quả giảm nghèo. Mục đích rất rõ ràng của giảm nghèo bền vững chính là đảm bảo hay duy trì thành quả giảm nghèo một cách lâu dài, bền vững [4]. Nếu hiểu “bền vững” với nghĩa là duy trì, là vững chắc thì giảm nghèo bền vững được hiểu là tình trạng  dân cư đạt được mức độ thỏa mãn những nhu cầu cơ bản hay mức thu nhập cao hơn chuẩn (nghèo) và duy trì được mức độ thỏa mãn những nhu cầu cơ bản hay mức thu nhập trên mức chuẩn đó ngay cả khi gặp phải các cú sốc hay rủi ro; giảm nghèo bền vững có thể được hiểu với nghĩa đơn giản là thoát nghèo bền vững hay không tái nghèo.

2. Các yếu tố phản ánh giảm nghèo và giảm nghèo bền vững

Về lý thuyết, nghèo là sự không thỏa mãn các nhu cầu cơ bản. Nên giảm nghèo bền vững được phản ánh thông qua sự cải thiện và duy trì mức độ thỏa mãn các nhu cầu cơ bản ở mức cao (cao hơn chuẩn), thông qua các tiêu chí phản ánh mức độ thỏa mãn nhu cầu về dinh dưỡng, nhà ở, giáo dục, vệ sinh, sức khỏe,… 

Trên thực tế, nghèo được phản ánh và đo lường thông qua thu nhập nên giảm nghèo bền vững có thể được phản ánh thông qua cải thiện thu nhập và duy trì mức thu nhập cao hơn chuẩn nghèo trong một khoảng thời gian nhất định (trong luận án này là 3 năm). 

Mặt khác, như lý giải ở phần trước, theo các tiếp cận sinh kế, giảm nghèo  bền vững là kết quả sinh kế, gồm hai giai đoạn: thoát nghèo và không tái nghèo trong một thời gian nhất định. Vì vậy, giảm nghèo bền vững ở cấp hộ, có thể phản ánh đồng thời thông qua hai tiêu chí: thoát nghèo và không tái nghèo.

Các tiêu chí phản ánh giảm nghèo bền vững

3. Các yếu tố tác động đến giảm nghèo và giảm nghèo bền vững

Tái nghèo, thoát nghèo hay giảm nghèo bền vững được xem là những kết quả sinh kế. Do vậy các yếu tố tác động đến kết quả sinh kế đều có thể tác động đến giảm nghèo, giảm nghèo bền vững. Theo lý thuyết sinh kế, các yếu tố tác động có thể phân thành các nhóm cơ bản như sau: 

Tài sản sinh kế bao gồm vốn con người, vốn vật chất, vốn tài chính, vốn tự nhiên, vốn xã hội đây là những yếu tố được xem là “nội lực“ của người nghèo, hộ nghèo. Một mặt, các tài sản sinh kế phản ánh tình trạng hay mức độ nghèo của hộ thông qua các chỉ báo về đất đai, thu nhập, vốn tín dụng, tiết kiệm, nhà ở, trình độ giáo dục,… Mặt khác, các tài sản kế phản ánh khả năng thỏa mãn các nhu cầu cơ bản, khả năng sản xuất, tạo thu nhập của hộ ví dụ: hộ có vốn con người cao sẽ có cơ hội việc làm tốt, thu nhập cao, mức độ nghèo thấp hơn; hộ có nhiều đất đai tốt (vốn tự nhiên) sẽ có cơ sở phát triển sản xuất nông nghiệp hơn những hộ không có đất đai; hộ có nhiều phương tiện sản xuất (vốn vật chất) có điều kiện tổ chức sản xuất tốt hơn hộ không có; hộ có các quan hệ xã hội (vốn xã hội) tốt hơn sẽ thuận lợi hơn trong huy động các nguồn lực; hộ tiếp cận tốt hơn với các nguồn vốn (vốn tài chính) sẽ có nhiều cơ hội mở rộng sản xuất hơn,… Như vậy, hộ có tài sản sinh kế càng tốt thì càng có nhiều khả năng giảm nghèo nhanh và bền vững. 

Chiến lược và hoạt động sinh kế: Thực chất một phần nhóm yếu tố này thuộc về vốn con người vì vốn con người là yếu tố quan trọng quyết định chiến lược sinh kế. Chiến lược sinh kế phù hợp, hoạt động sinh kế càng hiệu quả thì các tài sản sinh kế càng có cơ hội được cải thiện, tăng trưởng và giảm nghèo. 

Các yếu tố tác động từ bên ngoài, bao gồm: 

Thị trường, thể chế, chính sách liên quan trực tiếp và gián tiếp đến chi phí sản xuất, tiêu thụ, giá cả; cơ chế hỗ trợ hay hạn chế hoạt động sinh kế của hộ; các điều kiện hành chính thuận lợi hay cản trở các giao dịch của hộ gia đình. Ví dụ, giá gạo trên thị trường bị các tư thương lũng loạn gây ảnh hưởng trực tiếp đến người sản xuất lúa, thua lỗ, thu nhập giảm. 

Khoa học kỹ thuật: đây là một trong những yếu tố gắn liền với vốn con người, có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả của các hoạt động sinh kế, nâng cao năng suất lao động và cải thiện thu nhập. Ví dụ, những hộ sản xuất đúng quy trình kỹ thuật sẽ thường có năng suất, chất lượng cao hơn, thu nhập cao và bền vững hơn. 

Hỗ trợ giảm nghèo: là những trợ giúp trực tiếp hay gián tiếp, bằng tiền mặt hay vật chất đối với hộ gia đình nghèo nhằm hỗ trợ hộ nghèo cải thiện các tài sản sinh kế, điều chỉnh chiến lược sinh kế, tăng cường năng lực thực hiện các hoạt động sinh kế. Ví dụ, hỗ trợ hộ nghèo tiền điện, hỗ trợ khám chữa bệnh (cấp thẻ bảo hiểm y tế miễn phí), hỗ trợ giống, hỗ trợ lãi suất tín dụng, hỗ trợ cách thức sản xuất,… 

Cơ sở hạ tầng như đường giao thông, chợ, điện, thủy lợi, nước sinh hoạt, cơ sở giáo dục, cơ sở y tế, thông tin liên lạc đặc biệt có ý nghĩa đảm bảo các điều kiện để phát triển các hoạt động sinh kế, tiếp cận các dịch vụ xã hội, hỗ trợ giảm nghèo. 

Môi trường tự nhiên là các yếu tố tự nhiên có thể tác động thuận lợi hay bất lợi đến các chiến lược sinh kế và hoạt động sinh kế cả hộ gia đình. Ví dụ, thiên tai gây mất mùa, mất nguồn thu nhập dẫn đến nghèo đói… Khi bàn về các yếu tố tác động từ bên ngoài thì sốc hay rủi ro (bao gồm rủi ro tự nhiên như thiên tai; rủi ro môi trường do sản xuất và giao thông như tai nạn; rủi ro kinh tế như khủng hoảng; rủi ro xã hội như tệ nạn xã hội; rủi ro chính trị như các xung đột,…) được đặc biệt quan tâm vì nó tác động tiêu cực đến các tài sản sinh kế và là một nguyên nhân gây ra tình trạng nghèo hay tái nghèo.