Categories
Main

Một số lý luận về du lịch sinh thái

Trong bài viết này, nhanlamluanvan.com xin chia sẻ đến bạn một số lý luận về du lịch sinh thái, bao gồm: khái niệm, những đặc trưng cơ bản và các hình thức tồn tại của du lịch sinh thái.

Một số lý luận về du lịch sinh thái

>>> Xem thêm: Tổng hợp các phương pháp định giá doanh nghiệp

1. Những quan niệm về du lịch sinh thái

Du lịch sinh thái (Ecotourism) là một khái niệm tương đối mới và nhanh chóng thu hút được sự quan tâm của nhiều người thuộc các lĩnh vực khác nhau. Tuy nhiên, đến nay chưa có nhận thức thống nhất, còn nhiều cách tiếp cận khác nhau về khái niệm DLST. Các tổ chức và cá nhân tham gia nghiên cứu về loại hình du lịch này đều đưa ra những định nghĩa của riêng mình: 

Một trong những định nghĩa được coi là sớm về DLST mà đến nay vẫn được nhiều người quan tâm là định nghĩa của Hội DLST Quốc tế đưa ra năm 1991: “Du lịch sinh thái là loại hình du lịch có trách nhiệm đối với các vùng tự nhiên, bảo vệ môi trường và duy trì cuộc sống yên bình của người dân địa phương” [16, tr.11].

Theo quỹ bảo tồn động vật hoang dã (WWF – World Wild Fund): “Du lịch sinh thái đề cập tới các hoạt động du lịch đi tới các khu vực thiên nhiên hoang dã, gây tác động tối thiểu tới môi trường tự nhiên và cuộc sống của các loài động thực vật hoang dã trong khi mang lại một số lợi ích kinh tế cho cộng đồng địa phương và những người bản địa phục vụ tại đó” [16, tr.11].

Theo tổ chức du lịch thế giới (WTO – World Tourism Organisation): 

Du lịch sinh thái là loại hình du lịch được thực hiện tại những khu vực tự nhiên còn ít bị can thiệp bởi con người, với mục đích để chiêm ngưỡng, học hỏi về các loài động thực vật cư ngụ trong khu vực đó, giúp giảm thiểu và tránh được các tác động tiêu cực tới khu vực mà du khách đến thăm. Ngoài ra, du lịch sinh thái phải đóng góp vào công tác bảo tồn những khu vực tự nhiên và phát triển những khu vực cộng đồng lân cận một cách bền vững đồng thời phải nâng cao được khả năng nhận thức về môi trường và công tác bảo tồn đối với người dân bản địa và du khách đến thăm [16, tr.11].

Luật du lịch Việt nam (2005) đưa ra khái niệm DLST như sau: “Du lịch sinh thái là loại hình du lịch dựa vào thiên nhiên, gắn với bản sắc văn hóa địa phương, với sự tham gia của cộng đồng nhằm phát triển bền vững” [26, tr.11].

Tóm lại, du lịch sinh thái là tham quan và du lịch có trách nhiệm với môi trường tại các điểm tự nhiên không bị tàn phá để thưởng thức thiên nhiên và đặc điểm văn hóa đã tồn tại trong quá khứ hoặc đang hiện hành, qua đó khuyến khích hoạt động bảo vệ, hạn chế những tác động tiêu cực do khách quan gây ra và tạo ra ích lợi cho những người dân địa phương tham gia tích cực.

2. Những đặc trưng cơ bản về du lịch sinh thái

Các đặc trưng xuất phát từ sản phẩm du lịch sinh thái 

Sản phẩm DLST về cơ bản cũng không cụ thể không tồn tại dưới dạng vật thể. Thành phần chính của sản phẩm DLST là dịch vụ, hàng hóa chiếm tỷ trọng nhỏ. Sản phẩm DLST đa dạng và phong phú.

Do vậy việc đánh giá chất lượng sản phẩm DLST là rất khó khăn, vì thường mang tính chủ quan và phần lớn là không phụ thuộc người kinh doanh mà phụ thuộc vào người tiêu dùng – khách du lịch. Chất lượng sản phẩm DLST phụ thuộc vào tài nguyên du lịch. 

Sản phẩm DLST thường được tạo ra gắn liền với yếu tố tài nguyên du lịch. Do vậy, sản phẩm DLST ít có khả năng di chuyển được. Trên thực tế, không thể đưa sản phẩm DLST đến nơi có người tiêu dùng – khách du lịch mà bắt buộc người tiêu dùng phải đến với nơi có sản phẩm DLST để thỏa mãn nhu cầu của mình thông qua việc tiêu dùng. 

Sản phẩm của DLST được tạo ra trên cơ sở giảm thiểu tác hại đến môi trường. Dịch vụ vận chuyển: chủ yếu bằng phương tiện như đi bộ trong rừng, xe đạp, du thuyền… ; dịch vụ lưu trú: DLST đòi hỏi chủ yếu là nhà nghỉ sinh thái, sử dụng vật liệu ở địa phương; dịch vụ ăn uống, đồ ăn, thức uống sạch, an toàn;…những sản phẩm DLST này thật sự ít gây tác hại cho môi trường sinh thái. 

Các đặc trưng xuất phát từ tạo lập các sản phẩm DLST 

Quá trình tạo lập sản phẩm DLST phải được chuẩn bị kỹ lưỡng và công phu, mang tính thẩm mỹ cao. Việc xây dựng nhà nghỉ sinh thái, sản xuất hàng lưu niệm….đòi hỏi phải có thời gian và đáp ứng được các tiêu chí. Tiêu chí của DLST là khai thác tối đa nguyên liệu sẵn có tại địa phương nhưng không làm tổn hại đến tài nguyên để tạo ra hàng hóa và dịch vụ phục vụ nhu cầu du khách. Chính vì vậy, việc tạo lập sản phẩm DLST tốn nhiều thời gian, phải chuẩn bị kỹ lưỡng để tạo ra những sản phẩm đặc thù. 

Tạo lập sản phẩm du lịch không theo ý muốn chủ quan của những người kinh doanh dịch vụ mà phải theo quy định chung nhằm tạo ra sự đồng bộ, đảm bảo cảnh quan môi trường. Việc xây dựng cơ sở lưu trú, phương tiện vận chuyển khách du lịch phải theo quy hoạch thống nhất đảm bảo cảnh quan thiên nhiên, không làm tổn hại đến môi trường sống xung quanh.

Hướng dẫn viên đòi hỏi phải có chuyên môn, đồng thời là tuyên truyền viên trong lĩnh vực bảo vệ môi trường sinh thái, phải có kiến thức hiểu biết sâu rộng trong nhiều lĩnh vực như: kiến thức văn hóa dân tộc, am hiểu về tài nguyên thiên nhiên, động thực vật, ý thức cao trong bảo vệ môi trường, … 

Các đặc trưng xuất phát từ tiêu dùng sản phẩm DLST 

Phần lớn quá trình tạo ra và tiêu dùng các sản phẩm DLST trùng nhau về không gian và thời gian. Chúng không thể cất đi, tồn kho như các hàng hóa thông thường khác. Do vậy, để tạo ra sự ăn khớp giữa sản xuất và tiêu dùng là khó khăn. Việc thu hút khách du lịch nhằm tiêu thụ sản phẩm DLST là vấn đề vô cùng quan trọng đối với các nhà kinh doanh du lịch. 

Việc tiêu dùng sản phẩm DLST thường không diễn ra đều đặn, mà có thể tập trung vào những thời điểm nhất định trong ngày (đối với dịch vụ lưu trú, nhà hàng, cơ sở ăn uống), trong tuần (đối với sản phẩm thể loại du lịch cuối tuần), trong năm (đối với sản phẩm là một số loại hình du lịch như: du lịch biển, du lịch nghỉ núi…) Vì vậy, trên thực tế hoạt động kinh doanh du lịch thường mang tính mùa vụ. Sự dao động trong tiêu dùng sản phẩm DLST gây khó khăn cho việc tổ chức và hoạt động kinh doanh và từ đó ảnh hưởng đến kết quả kinh doanh. 

Trong quá trình tiêu dùng, sản phẩm DLST ít mất đi vì được tạo ra gắn liền với yếu tố tài nguyên du lịch. Du khách thỏa mãn nhu cầu khi tiêu dùng sản phẩm du sinh thái thông qua quan sát, ngắm nhìn, chiêm ngưỡng,…Do đó sản phẩm DLST thường vẫn tồn tại. 

Ngoài ra, DLST hoạt động chủ yếu trong môi trường thiên nhiên với đặc điểm đi kèm là: loại hình du lịch khuyến khích bảo vệ môi trường sinh thái, khuyến khích sự tham gia của cộng đồng dân cư và đem lại lợi ích về kinh tế xã hội thúc đẩy sự phát triển bền vững. Loại hình này luôn được sự quan tâm điều hành của Chính phủ và các tổ chức môi trường thế giới.

DLST là một dạng hoạt động tiêu dùng ở trình độ cao, lại biểu hiện với hình thức kinh doanh. Người du lịch phải chi tiêu một khoản tiền nhất định cho việc đi lại, ăn ở, vui chơi, mua sắm…; xã hội phải cung cấp các điều kiện tất yếu về việc giao thông, phương tiện du lịch cho hoạt động này. Trong quá trình tiêu dùng sản phẩm du lịch tất nhiên có liên quan với việc trao đổi về mặt chính trị, văn hóa từ đó tạo nên chỉnh thể du lịch. Do đó, muốn tiêu dùng sản phẩm du lịch dễ dàng đòi hỏi phải phát triển đồng bộ trên nhiều lĩnh vực.

3. Các hình thức tồn tại của du lịch sinh thái

DLST là ngành kinh tế có định hướng tài nguyên rõ rệt. Tài nguyên DLST rất phong phú và đa dạng cả tài nguyên du lịch tự nhiên và tài nguyên du lịch nhân văn. Do đó, DLST tồn tại với nhiều hình thức khác nhau. Dựa vào tài nguyên DLST và sự hướng dụng các sản phẩm du lịch có thể chia DLST thành các loại hình sau:

Một là: du lịch biển: đó là du lịch mà du khách đến thưởng ngoạn các phong cảnh hữu tình của mặt biển, đáy biển và các phong cảnh đẹp của đảo, bán đảo và hưởng dụng các sản phẩm do biển cung cấp như: cua, sò, cá, san hô, thảm cỏ biển… 

Mục tiêu chủ yếu của du khách là về với thiên nhiên, tham gia các hoạt động du lịch biển, đảo như: tắm biển, thể thao biển, lặn biển, xem chim thú các loài động thực vật trên đảo, dưới biển, nghỉ dưỡng biển, câu cá, thẻ mực, du thuyền trên biển,…. Thời gian thuận lợi cho loại hình này là mùa nóng, khi nhiệt độ nước biển và không khí trên 200C. Tuy nhiên, thường bị ảnh hưởng đến thời tiết, nhưng lại có nơi có thể tổ chức du lịch quanh năm. Mặt khác, điều kiện chất lượng mặt nước biển, bãi biển, độ dốc không phải nơi nào cũng phù hợp cho du lịch tắm biển. Loại hình này được những người có thu nhập cao ưa thích và có thể lưu lại dài ngày. 

– Hai là: Du lịch núi và hang động: là loại hình du lịch mà du khách khám phá các đỉnh núi cao, hang động huyền ảo, ngắm phong cảnh, chim thú lạ…Do tính độc đáo loại hình du lịch này rất thích hợp cho du lịch tham quan, nghỉ núi, khám phá núi và hang động, cắm trại, mạo hiểm…rất thích hợp những du khách ưa thích cảm giác mạnh. 

Ba là: Du lịch rừng sinh thái thiên nhiên: là loại hình du lịch mà du khách tham quan hệ sinh thái thiên nhiên hoang dã, ngắm phong cảnh, xem chim, thú và hưởng dụng các sản phẩm của rừng cung cấp như: cá, thú… Hệ sinh thái thiên nhiên điển hình là Vườn quốc gia, KDTSQ. Đây là một khu vực thiên nhiên hoang dã có đặc điểm nổi bật về hệ sinh thái và các loài động, thực vật được bảo vệ để duy trì đảm bảo phát triển bền vững.

Hệ sinh thái Vườn quốc gia, khu bảo tồn thiên nhiên là những vùng có sức cuốn hút lớn đối với khách du lịch. Vườn quốc gia, khu bảo tồn thiên nhiên được xây dựng nhằm ngăn chặn việc khai thác quá mức đời sống hoang dã và cảnh quan môi trường. Do tính độc đáo của nó, cho nên rất thuận lợi cho phát triển các loại hình du lịch như: du lịch tham quan, nghỉ dưỡng, giải trí ngoài trời, tìm hiểu thiên nhiên hoang dã, giáo dục, văn hóa, du lịch khám phá, cấm trại, về nguồn, xem chim thú, câu cá, đi bộ trong rừng,… 

Loại hình du lịch này có khả năng thu hút người có thu nhập, trình độ cao, những người làm việc bận rộn, căng thẳng, người thành thị họ muốn thưởng thức cuộc sống yên tỉnh, môi trường trong lành, tìm hiểu lịch sử, nghiên cứu khoa học…Đây là hình thức tồn tại đặc trưng của DLST. Loại hình này khuyến khích phát triển nhà nghỉ sinh thái, bảo tồn thiên nhiên, chống ô nhiễm môi trường. 

– Bốn là: Du lịch thăm bản làng dân tộc: Đây là nguồn tài nguyên nhân văn ở các khu sinh thái tự nhiên. Ở các làng bản dân tộc, nét độc đáo thu hút khách du lịch trong và ngoài nước đó là cộng đồng dân cư với vốn văn hoá truyền thống của họ như: các món ăn đặc sản, kiến trúc nghệ thuật, lối sống, sinh hoạt lễ hội và văn hoá dân gian…loại hình này rất hấp dẫn du khách nước ngoài. 

Năm là: Du lịch thôn quê: Đối với người dân đô thị, làng quê là nơi có không khí trong lành, cảnh vật thanh bình và không gian thoáng đãng. Tất cả các yếu tố đó, lại hoàn toàn không còn tìm thấy ở thành thị. Như vậy, về nông thôn có thể giúp họ phục hồi sức khỏe sau những chuỗi ngày làm việc căng thẳng. Về phương diện kinh tế, người dân đô thị nhận thấy giá cả nhiều hàng hóa nông sản thực phẩm ở nông thôn rẻ hơn, tươi hơn. Điều đó làm cho tăng mối thiện cảm khi du khách tiềm năng quyết định du lịch về nông thôn. Mặt khác, về mặt tình cảm người đô thị tìm thấy ở nông thôn cội nguồn của mình. Dưới góc độ xã hội, người thành thị thấy người dân ở làng quê tình cảm chân thành, mến khách và trung thực. 

Loại hình du lịch thôn quê được ưa thích là tham quan phong cảnh làng quê, du thuyền trên sông nước, câu cá, thăm vườn cây ăn trái, trải nghiệm cuộc sống làng quê – ở nhà dân, du lịch về nguồn, thăm viếng người thân. 

Sáu là: Du lịch gắn với chữa bệnh: là loại hình du lịch thưởng ngoạn cảnh quan thiên nhiên, yên tỉnh, môi trường trong lành gắn với chữa bệnh như suối nước, nghỉ dưỡng…. loại hình này rất thích hợp cho người lớn tuổi.

Categories
Main

Những vấn đề lý luận về hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất

Trong bài viết này, nhanlamluanvan.com xin chia sẻ đến bạn đọc những vấn đề lý luận về hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất.

Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất

>>> Xem thêm: Những vấn đề chung về tranh chấp đất đai và giải quyết tranh chấp đất đai

1. Khái niệm quyền sử dụng đất

Quyền sử dụng đất là quyền khai thác những thuộc tính có lợi từ đất một cách hợp pháp thông qua các hành vi sử dụng đất hoặc chuyển quyền đó cho người khác. Quá trình hình thành, vận động và phát triển của quyền sử dụng đất vừa diễn ra một cách tất yếu, khách quan vừa có sự gắn liền và lệ thuộc với chế định quyền sở hữu toàn dân đối với đất đai mà Nhà nước là người đại diện. Tuy nhiên, quyền sử dụng đất của người sử dụng đất là một phạm trù khá rộng, bao gồm nhiều quyền năng pháp lý khác nhau, trong đó, có quyền được chuyển quyền sử dụng đất. Các quyền này phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt nằm trong một “khuôn khổ” nhất định. Khuôn khổ đó chính là ý chí của Nhà nước được thực hiện bằng việc ban hành các quy định của pháp luật bắt buộc người sử dụng đất và các cơ quan quản lý nhà nước phải tuân theo. Các quy định này vừa có tính ổn định, vừa có sự biến đổi tùy thuộc vào từng giai đoạn phát triển của xã hội. Từ chỗ chỉ ghi nhận người người sử dụng đất chỉ có 5 quyền chuyển quyền sử dụng đất tại Luật đất đai năm 1993, Nhà nước đã mở rộng cho người người sử dụng đất có thêm quyền cho thuê lại, góp vốn bằng giá trị quyền sử dụng đất trong một số trường hợp nhất định tại Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật đất đai ngày 01/12/1998 và các quyền này tiếp tục được khẳng định tại Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật đất đai ngày 29/6/2001 và đặc biệt là Luật đất đai 2003 được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XI thông qua ngày 26/11/2003.

2. Khái niệm chuyển quyền sử dụng đất

Chuyển quyền sử dụng đất là việc người có quyền sử dụng đất có thể chuyển quyền này cho người khác bằng một trong các hình thức: chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho quyền sử dụng đất, góp vốn, thế chấp và bảo lãnh bằng giá trị quyền sử dụng đất. Chuyển quyền sử dụng đất là việc Nhà nước công nhận tính hợp pháp trong hành vi tự điều chỉnh đất của chủ thể đang sử dụng cho chủ thể mới. Hay nói khác đi, chuyển quyền sử dụng đất là việc Nhà nước cho phép người sử dụng đất được “định đoạt” quyền sử dụng đất hợp pháp của mình theo quy định của pháp luật.

Đặc điểm của chuyển quyền sử dụng đất:

Thứ nhất, người sử dụng đất không có toàn quyền quyết định, đoạt tuyệt đối với đất thuộc quyền sử dụng của mình như đối với các loại tài sản khác thuộc quyền sở hữu. Khi thực hiện việc chuyển quyền sử dụng đất, những người tham gia vào giao dịch phải tuân theo các quy định về điều kiện, nội dung, trình tự, thủ tục do pháp luật quy định. Việc chuyển quyền sử dụng đất bị ràng buộc bởi thời hạn, mục đích và quy hoạch sử dụng đất. Người nhận quyền sử dụng đất phải sử dụng đất đúng mục đích mà Nhà nước đã xác định. 

Thứ hai, do đất đai luôn có một vị trí cố định không di dời được, bởi vậy khác với các hàng hóa khác nó cần được đo đạc, lập hồ sơ thửa, đánh số, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hợp pháp. Việc chuyển quyền sử dụng đất chủ yếu được tiến hành thông qua hệ thống hồ sơ giấy tờ về đất. Do vậy, trong các giao dịch về đất đai hồ sơ địa chính, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, các hợp đồng phải rõ ràng, công khai, minh bạch. 

Thứ ba, giá trị quyền sử dụng đất khi chuyền sử dụng đất phụ thuộc vào nhiều yếu tố như vị trí thửa đất, khả năng sinh lợi của đất, mức độ hoàn thiện cơ sở hạ tầng, các yếu tố kinh tế, chính trị, xã hội khác. Do vậy, cùng một diện tích nhưng tọa lạc tại các vị trí khác nhau, thậm chí hai thửa đất nằm kề nhau thì khi chuyển quyền sử dụng đất giá có thể rất khác.

3. Khái niệm, đặc điểm của hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất

3.1. Khái niệm hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất

Đứng ở góc độ pháp luật dân sự, hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất là sự chuyển dịch quyền sử dụng đất từ người có quyền sử dụng đất hợp pháp sang người khác theo một trình tự, thủ tục, điều kiện do pháp luật quy định, theo đó, người có quyền sử dụng đất (người chuyển nhượng) có nghĩa vụ chuyển giao đất và quyền sử dụng đất cho người được chuyển nhượng (người nhận chuyển nhượng), người nhận chuyển nhượng có nghĩa vụ trả tiền cho người chuyển nhượng; người chuyển nhượng còn có nghĩa vụ nộp thuế chuyển quyền sử dụng đất, người nhận chuyển nhượng có nghĩa vụ nộp lệ phí trước bạ và lệ phí địa chính theo quy định của pháp luật.

3.2. Đặc điểm của hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất

Để hiểu rõ về những đặc trưng riêng của hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất chúng ta cần đi sâu vào phân tích và so sánh với một số hình thức chuyển nhượng đất đai khác.

Một là, so sánh giữa hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất với hợp đồng chuyển đổi quyền sử dụng đất 

Chuyển đổi quyền sử dụng đất là phương thức đơn giản của chuyển quyền sử dụng đất, theo đó, các bên có quyền sử dụng đất thỏa thuận chuyển quyền sử dụng đất cho nhau để thỏa mãn nhu cầu tiện lợi trong sản xuất, đời sống. 

Mục đích của chuyển đổi quyền sử dụng đất là tạo điều kiện thuận tiện cho sản xuất và đời sống, nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất. Việc Nhà nước ghi nhận quyền này có ý nghĩa rất lớn trong thực tiễn, nhất là trong sản xuất nông nghiệp. Trong những năm qua, Nhà nước ta đã có chủ trương khuyến khích việc chuyển đổi ruộng đất sản xuất nông nghiệp, qua quá trình thử nghiệm chủ trương này ở một số địa phương cho thấy, đã khắc phục được tình trạng đất đai manh mún, giảm thiểu số lượng thửa đất, tăng thêm diện tích trên mỗi thửa đất, tạo điều kiện thuận lợi cho việc đưa tiến bộ khoa học vào sản xuất nông nghiệp, nhờ đó, năng suất cây trồng và sản lượng nông nghiệp tăng lên rõ rệt. Tuy nhiên, hiện nay ở nước ta, thực trạng ruộng đất nông nghiệp ở nhiều nơi vẫn còn manh mún, phân tán, gây khó khăn không nhỏ cho việc đưa tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sự phát triển nền sản xuất hàng hóa trong nông nghiệp. Vì vậy, cần phải tổ chức thực hiện, vận động nông dân khắp nơi chuyển đổi ruộng đất theo kinh nghiệm của các địa phương.

Cũng như chuyển nhượng quyền sử dụng đất, chuyển đổi quyền sử dụng đất là một hình thức chuyển quyền sử dụng đất, theo đó Nhà nước chấm dứt quyền sử dụng đất của bên này để thiết lập quyền sử dụng đất cho bên kia. Tuy nhiên, giữa hai hình thức này có sự khác nhau và nó thể hiện ở chỗ, nếu như trong quan hệ chuyển nhượng quyền sử dụng đất, đối tượng của quan hệ là “đổi đất lấy tiền” và việc thực hiện quan hệ này là quá trình chấm dứt quyền sử dụng đất của bên chuyển nhượng để thiết lập quyền sử dụng đất cho bên nhận chuyển nhượng (quan hệ một chiều), thì trong quan hệ chuyển đổi quyền sử dụng đất, đối tượng chủ yếu của quan hệ là “đổi đất lấy đất”. Trong quan hệ chuyển đổi quyền sử dụng đất, các bên có thể thỏa thuận chuyển tiền cho nhau để bù đắp giá trị chênh lệch giữa hai thửa đất nhưng mục đích cơ bản và cũng là vấn đề mà cả người sử dụng đất lẫn cơ quan quản lý nhà nước quan tâm đó là các bên đổi quyền sử dụng đất cho nhau. Việc thực hiện quan hệ này là quá trình cùng một lúc chấm quyền sử dụng đất của cả hai bên đối với thửa đất mà họ đang sử dụng để thiết lập quyền sử dụng đất cho cả hai bên nhận quyền sử dụng đất từ phía bên kia (quan hệ hai chiều). 

Hai là, so sánh giữa hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất với hình thức thế chấp quyền sử dụng đất 

Thế chấp quyền sử dụng đất là trường hợp người sử dụng đất mang quyền sử dụng đất của mình đi thế chấp để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự. Nghĩa vụ dân sự là nghĩa vụ của bên thế chấp, thông thường được phát sinh từ hợp đồng vay mượn tiền, tài sản của bên nhận thế chấp và phải thấp hơn giá trị quyền sử dụng đất được đem ra thế chấp. Việc Nhà nước ghi nhận quyền này nhằm tạo điều kiện cho người sử dụng đất có thể dùng quyền sử dụng đất của mình để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ trong quá trình tạo lập cho mình một khoản tiền một cách hợp pháp để đầu tư vào công việc sản xuất, kinh doanh, hoặc thỏa mãn nhu cầu tiêu dùng tạm thời khi họ không có điều kiện kinh tế trước mắt. 

Cũng như chuyển nhượng quyền sử dụng đất, khi thế chấp quyền sử dụng đất, người có quyền sử dụng đất phải chuyển giao giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bên nhận thế chấp, nhưng sự chuyển giao này chỉ mang tính chất tạm thời, trong thời hạn thế chấp hoặc chưa giải trừ thế chấp.

Khác với hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, bên thế chấp không bị chấm dứt việc sử dụng đất của mình mà vẫn được tiếp tục chiếm hữu, sử dụng đất; bên nhận thế chấp không có quyền như một chủ sử dụng đất cả về mặt thực tế lẫn pháp lý mà họ chỉ có quyền kiểm soát quyền năng pháp lý của bên thế chấp và có quyền đưa quyền sử dụng đất Đ này ra phát mại bán đấu giá khi bên thế chấp không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ dân sự mà hai bên đã thỏa thuận. 

Như vậy, khác với hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, thế chấp quyền sử dụng đất là hình thức chuyển quyền sử dụng đất không trọn vẹn và có điều kiện, hay nói một cách khác, trong quan hệ thế chấp, việc “chuyển quyền ” ở đây thực ra là chuyển “quyền sử dụng đất theo danh nghĩa pháp lý” từ bên thế chấp sang cho bên nhận thế chấp kiểm soát, nắm giữ ” quyền sử dụng đất theo danh nghĩa pháp lý” đó, còn “quyền sử dụng đất thực tế” vẫn thuộc bên thế chấp, và bên nhận thế chấp chỉ có quyền “định đoạt theo quy định của pháp luật” quyền sử dụng đất của bên nhận thế chấp khi họ vi phạm nghĩa vụ của hợp đồng. Điều kiện chủ thể của bên nhận thế chấp không “rộng rãi” như bên nhận chuyển nhượng mà bị pháp luật “hạn chế” rất nhiều, theo quy định hiện hành, chỉ có tổ chức tín dụng và đảm bảo những điều kiện nhất định mới có quyền nhận thế chấp. 

Ba là, so sánh giữa hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất với hình thức hợp đồng mua bán tài sản 

Điểm giống nhau giữa hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và hợp đồng mua bán tài sản là các quan hệ của nó đều thuộc đối tượng điều chỉnh của pháp luật dân sự, theo đó, quyền và nghĩa vụ dân sự của các bên đều được phát sinh thông qua hình thức hợp đồng, quyền của bên này tương ứng với nghĩa vụ của bên kia, một bên có nghĩa vụ chuyển giao quyền sử dụng đất (đối với hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất) hoặc tài sản (đối với hợp đồng mua bán tài sản) và nhận tiền; ngược lại, bên kia có nghĩa vụ trả tiền và nhận quyền sử dụng đất hoặc tài sản. 

Tuy nhiên, giữa hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và hợp đồng mua bán tài sản có những điểm khác biệt, thể hiện ở những nội dung sau:

Thứ nhất, về mặt đối tượng, nếu như trong quan hệ mua bán tài sản, đối tượng của hợp đồng mua bán tài sản là tài sản (bao gồm vật có thực và quyền tài sản) thuộc quyền sở hữu của bên bán, thì trong quan hệ chuyển nhượng quyền sử dụng đất, đối tượng của hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất là quyền sử dụng đất của bên chuyển nhượng, còn thửa đất chuyển nhượng vẫn thuộc quyền sở hữu của toàn dân mà Nhà nước là người đại diện. 

Với tư cách là chủ sở hữu tài sản, bên bán có toàn quyền định đoạt tài sản bằng việc bán quyền sở hữu tài sản cho bên mua mà không phụ thuộc vào ý chí của người khác. Trong khi đó bên chuyển nhượng chỉ là người có quyền sử dụng đất nên khi chuyển nhượng cho người khác phải được sự cho phép của đại diện chủ sở hữu đối với thửa đất chuyển nhượng đó là Nhà nước. 

Thứ hai, về hình thức, hiệu lực của hợp đồng, nếu như hợp đồng mua bán tài sản có thể được giao kết bằng lời nói, bằng văn bản hoặc bằng hành vi cụ thể và thường có hiệu lực thi hành ngay sau khi xác lập (cam kết hoặc ký kết), trừ hợp đồng mua bán nhà ở và một số tài sản mà Nhà nước có quy định phải được lập bằng văn bản, thì hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất phải được lập bằng văn bản và chỉ có hiệu lực thi hành sau khi được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép. 

Thứ ba, về trách nhiệm, nghĩa vụ trước Nhà nước, nếu như trong mua bán tài sản, bên bán tài sản cũng như bên mua tài sản không phải thực hiện nghĩa vụ gì trước Nhà nước, trừ trường hợp Nhà nước quy định khi mua bán một số loại tài sản bên mua phải đăng ký quyền sở hữu và nộp lệ phí trước bạ, thì trong chuyển nhượng quyền sử dụng đất, các bên chuyển nhượng phải tuân thủ nguyên tắc, điều kiện, trình tự, thủ tục và phải có nghĩa vụ nộp thuế chuyển quyền sử dụng đất, lệ phí trước bạ, lệ phí địa chính theo quy định của pháp luật.

Categories
Main

Luận văn về giải quyết tranh chấp về chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn

Trong bài viết này, nhanlamluanvan.com xin chia sẻ đến bạn mẫu luận văn về giải quyết tranh chấp về chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn.

Giải quyết tranh chấp về chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn

>>> Xem thêm: Pháp luật về sử dụng các công cụ kinh tế trong bảo vệ môi trường

Đề cương luận văn về giải quyết tranh chấp về chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT CỦA VIỆC GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP VỀ CHIA TÀI SẢN CHUNG CỦA VỢ CHỒNG KHI LY HÔN

1.1. Cơ sở lý luận của việc giải quyết tranh chấp về chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn   

1.1.1.  Khái niệm và nội hàm tài sản chung của vợ chồng  

1.1.2.  Khái niệm giải quyết tranh chấp về chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn  

1.1.3.  Đặc điểm và ý nghĩa của việc giải quyết tranh chấp về chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn  

1.2. Cơ sở và căn cứ pháp luật của việc giải quyết tranh chấp về chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn

1.2.1.  Pháp luật về nội dung: Các nguyên tắc và các nội dung cụ thể 

1.2.2.  Pháp luật về tố tụng: Quyền hạn, nghĩa vụ, thẩm quyền của các chủ thể và trình tự, thủ tục trong giải quyết tranh chấp chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn  

1.3. Các điều kiện và các yếu tố đảm bảo hiệu quả của việc giải quyết tranh chấp về chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn

Kết luận chương 1          

Chương 2: THỰC TIỄN ÁP DỤNG PHÁP LUẬT TRONG VIỆC GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP VỀ CHIA TÀI SẢN CHUNG CỦA VỢ CHỒNG LY HÔN

2.1. Thực tiễn giải quyết các tranh chấp về chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn

2.1.1. Tình hình xét xử các vụ án hôn nhân và gia đình, những thành tựu đạt được

2.1.2. Những hạn chế, thiếu sót trong việc áp dụng pháp luật giải quyết tranh chấp về chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn tại Tòa án

2.2. Nguyên nhân dẫn đến hạn chế, thiếu sót

Kết luận chương 2

Chương 3: MỘT SỐ PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT, TĂNG CƯỜNG HIỆU QUẢ CỦA VIỆC GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP VỀ CHIA TÀI SẢN CHUNG CỦA VỢ CHỒNG KHI LY HÔN

3.1. Giải pháp hoàn thiện pháp luật

3.2. Giải pháp tăng cường hiệu quả pháp luật của việc giải quyết tranh chấp về chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn

Kết luận 3

KẾT LUẬN

Tính cấp thiết về đề tài

Từ xưa đến nay, gia đình luôn là tế bào của xã hội, là nơi những người có quan hệ huyết thống, hôn nhân và nuôi dưỡng cùng chung sống. Gia đình hòa thuận và hạnh phúc sẽ góp phần vào sự phát triển bền vững và phồn thịnh chung của xã hội. Nhận thức được vị thế quan trọng của gia đình, Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm, chú trọng đến việc xây dựng và giữ gìn gia đình êm ấm, hòa thuận, thể hiện ở sự quan tâm đó là Đảng và Nhà nước ta đã ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về hôn nhân và gia đình góp phần giúp cho sự tồn tại và phát triển của gia đình đi vào chuẩn mực, khuôn khổ, giúp tạo ra sự bền vững trong quan hệ gia đình. 

Khi nam nữ kết hôn, cùng nhau xây dựng một gia đình thì sự bền vững của quan hệ hôn nhân là mong muốn của những người vợ, người chồng, đây cũng là mục đích của việc xây dựng gia đình mà pháp luật đặt ra. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp, quan hệ hôn nhân do chịu sự tác động của nhiều yếu tố chủ quan và khách quan, đã không giữ được ý nghĩa và giá trị như mong muốn ban đầu, cuộc sống chung của vợ, chồng đã không còn hạnh phúc, nên pháp luật dự liệu khả năng cho họ quyền được giải phóng khỏi quan hệ hôn nhân bằng việc ly hôn. 

Khi ly hôn, vợ, chồng thường xảy ra các tranh chấp về nhân thân và tài sản, đặc biệt là về tài sản. Quan hệ tài sản giữa vợ, chồng là quan hệ tài sản gắn liền với nhân thân, tồn tại trong thời kỳ hôn nhân, không có tính đền bù ngang giá và không xác định được công sức đóng góp cụ thể của các bên nên khi xảy ra tranh chấp thì việc phân chia tài sản chung vợ, chồng là tương đối khó khăn, phức tạp, gây nhiều tranh cãi trong các vụ giải quyết ly hôn tại các cấp Tòa án. Hiện nay cùng với xu thế phát triển của xã hội, số lượng các vụ án ly hôn có tranh chấp về tài sản tăng lên, giá trị tài sản tranh chấp ngày càng lớn tạo ra rất nhiều khó khăn và áp lực cho cơ quan tiến hành tố tụng. Do vậy, nghiên cứu về vấn đề giải quyết tranh chấp về chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn là vấn đề có ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc. 

Với những lý do trên tôi quyết định lựa chọn đề tài “Giải quyết tranh chấp về chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn” làm Luận văn thạc sĩ luật học của mình.

Tình hình nghiên cứu đề tài

Xuất phát từ vai trò quan trọng của gia đình trong xã hội nên việc nghiên cứu về các tranh chấp trong quan hệ hôn nhân và gia đình luôn được quan tâm và chú ý, được nhiều nhà nghiên cứu và các học giả đề cập. 

Một số tài liệu chuyên khảo về hôn nhân và gia đình như: Giáo trình Luật HN&GĐ Việt Nam, Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Luật HN&GĐ của khoa luật, Trường Đại học Cần Thơ… các giáo trình này đều đề cập đến các kiến thức pháp lý cơ bản và khái quát về tài sản chung vợ chồng. Bên cạnh đó, các bài viết liên quan đến tài sản chung của vợ chồng như “Chế độ tài sản chung vợ chồng theo Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam” của tác giả Nguyễn Văn Cừ; tác giả Đoàn Thị Phương Diệp với “Nguyên tắc suy đoán tài sản chung trong Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam và Luật dân sự Pháp”; tác giả Nguyễn Văn Cừ- Ngô Thị Hường với “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về Luật hôn nhân và gia đình năm 2000”. Các bài viết này đã đề cập một cách khái quát về các căn cứ xác lập tài sản chung của vợ chồng. 

Bên cạnh đó, phải kể đến một số công trình nghiên cứu như “Chia tài sản chung của vợ chồng theo Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam năm 2000” của tác giả Nguyễn Thị Lan “Bàn thêm về chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân” của tác giả Nguyễn Hồng Hải; “Một số vấn đề chia tài sản của vợ chồng khi ly hôn theo Luật HN&GĐ năm 2000” của tác giả Nguyễn Thị Bích Vân, các công trình này đã nghiên cứu một cách tương đối toàn diện các nguyên tắc chia tài sản chung của vợ chồng. 

Mặc dù vậy, với xu hướng các vụ án ly hôn và chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn hiện nay ngày càng tăng và việc Luật HN&GĐ năm 2014 mới được ban hành và bước đầu đi vào áp dụng trong thực tiễn xét xử thì việc nghiên cứu các quy định của pháp luật về việc giải quyết tranh chấp về chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn là điều rất quan trọng, qua nghiên cứu sẽ thấy được những tiến bộ của Luật HN&GĐ năm 2014 và những hạn chế, bất cập trong quá trình áp dụng các quy định của pháp luật để giải quyết tranh chấp về chia tài sản chung của vợ chồng, đề ra những kiến nghị hoàn thiện pháp luật và những phương hướng nhằm nâng cao hiệu quả của công tác xét xử giải quyết tranh chấp về chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn.

Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài

Mục đích nghiên cứu của đề tài 

Làm rõ quy trình, cơ sở pháp lý để giải quyết các tranh chấp về tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn tại toà án, thực tiễn áp dụng pháp luật để giải quyết các tranh chấp về tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn tại toà án qua công tác xét xử và qua đó phát hiện những vấn đề còn bất cập trong các quy định của pháp luật cũng như những khiếm khuyết, sai sót trong công tác xét xử của toà án để từ đó đề xuất những kiến nghị nhằm đảm bảo chất lượng, hiệu quả công tác xét xử và quyền, lợi chính đáng của các đương sự trong vụ án giải quyết chia tài sản chung vợ chồng. 

Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài 

Nghiên cứu làm rõ các quy định về thủ tục tố tụng, cơ sở pháp luật để giải quyết các tranh chấp về tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn theo quy định của pháp luật hiện hành. 

Nghiên cứu việc áp dụng pháp luật để giải quyết các tranh chấp về tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn qua thực tiễn công tác xét xử của toà án. 

Qua đó đánh giá hiệu quả của việc xét xử tại toà án về giải quyết các tranh chấp tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn, phát hiện những vấn đề vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật cũng như trong thực tiễn áp dụng pháp luật khi xét xử tại toà án và đề xuất các kiến nghị cần thiết. 

Đối tượng nghiên cứu 

Các quy định của pháp luật hiện hành về quy trình, thủ tục, căn cứ pháp luật giải quyết tranh chấp về chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn và thực tiễn việc giải quyết tại Tòa án. 

Các vụ án cụ thể mà toà án đã xét xử giải quyết tranh chấp về chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn. 

Báo cáo tổng kết công tác xét xử của ngành toà án. 

Phạm vi nghiên cứu đề tài 

Luận văn chủ yếu tập trung nghiên cứu các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, Luật HN&GĐ năm 2014 và một số văn bản khác có liên quan về quy trình, thủ tục tố tụng giải quyết các tranh chấp về chia tài sản chung của vợ, chồng; các căn cứ pháp luật về nội dung để giải quyết tranh chấp về chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn. Đồng thời, nghiên cứu việc áp dụng pháp luật giải quyết các tranh chấp về chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn qua thực tiễn xét xử tại toà án thông qua các vụ án cụ thể trong thời gian từ khi Luật HN&GĐ năm 2000 có hiệu lực đến nay. Đề tài chỉ nghiên cứu giải quyết các tranh chấp về tài sản chung của vợ, chồng khi ly hôn, còn những tranh chấp về tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân hoặc các tranh chấp về tài sản riêng của vợ hoặc chồng khi ly hôn không được nghiên cứu trong đề tài này. Đề tài nghiên cứu về thủ tục tố tụng và các quy định về nội dung của việc giải quyết tranh chấp về chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn. 

Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu đề tài 

Cơ sở phương pháp luận nghiên cứu đề tài là phép duy vật biện chứng, duy vật lịch sử và các quan điểm của Đảng, pháp luật của Nhà nước điều chỉnh quan hệ hôn nhân và gia đình. 

Phương pháp nghiên cứu cụ thể: Trong quá trình nghiên cứu, tác giả sử dụng phương pháp phân tích, so sánh, tổng hợp, thống kê, mô hình hoá và đồng thời nghiên cứu những báo cáo công tác xét xử của toà án, các bản án của toà án giải quyết các tranh chấp về tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn, các bài viết, tham luận của một số tác giả về vấn đề nghiên cứu. 

Dự kiến kết quả nghiên cứu của đề tài 

Đây là một đề tài có tính chuyên sâu đồng thời có tính thực tiễn sâu sắc trong chuyên ngành luật dân sự. Đề tài chú trọng nghiên cứu về mặt thực tiễn giải quyết các tranh chấp về chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn qua công tác xét xử của các cấp toà án từ khi Luật HN&GĐ năm 2000 có hiệu lực đến nay, đồng thời liên hệ những điểm mới trong Luật HN&GĐ năm 2014. Qua đó phát hiện những vướng mắc, bất cập trong các quy định của pháp luật cũng như những khiếm khuyết, sai sót trong quá trình áp dụng pháp luật để giải quyết các tranh về chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn tại toà án. Trên cơ sở đó luận văn đề xuất một số kiến nghị để giải quyết những vướng mắc, bất cập và hoàn thiện pháp luật về giải quyết tranh chấp chia tài sản chung của vợ chồng nhằm đảm bảo việc giải quyết tranh chấp về chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn có thể tiết kiệm được thời gian, chi phí và đảm bảo được quyền, lợi ích chính đáng của các bên liên quan. 

Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3 chương: 

Chương 1: Cơ sở lý luận và pháp luật của việc giải quyết tranh chấp về chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn. 

Chương 2: Thực tiễn áp dụng pháp luật trong việc giải quyết tranh chấp về chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn. 

Chương 3: Một số phương hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật, tăng cường hiệu quả của việc giải quyết tranh chấp về chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn.

Categories
Main

Pháp luật về sử dụng các công cụ kinh tế trong bảo vệ môi trường

Trong bài viết này, nhanlamluanvan.com xin chia sẻ đến bạn pháp luật về sử dụng các công cụ kinh tế trong bảo vệ môi trường.

Pháp luật về sử dụng các công cụ kinh tế trong bảo vệ môi trường

>>> Xem thêm: Luận văn về giải quyết tranh chấp về chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn

1. Khái niệm pháp luật về sử dụng các công cụ kinh tế trong bảo vệ môi trường

Pháp luật là hệ thống các quy tắc xử sự mang tính bắt buộc chung do Nhà nước ban hành hoặc thừa nhận được Nhà nước bảo đảm thực hiện nhằm mục đích điều chỉnh các quan hệ xã hội. Pháp luật là công cụ để thực hiện quyền lực nhà nước và là cơ sở pháp lý cho đời sống xã hội.

Một trong những chức năng của pháp luật là chức năng điều chỉnh. Sự điều chỉnh của pháp luật lên các quan hệ xã hội được thực hiện theo hai hướng: một mặt pháp luật ghi nhận các quan hệ xã hội chủ yếu trong xã hội; mặt khác pháp luật bảo đảm cho sự phát triển của xã hội. Như vậy, pháp luật đã thiết lập “trật tự” đối với các quan hệ xã hội, tạo điều kiện cho các quan hệ xã hội phát sinh theo chiều hướng nhất định, phù hợp với quy luật vận động khách quan của các quan hệ xã hội.

Quan hệ xã hội là mối quan hệ giữa con người với con người và mối quan hệ giữa con người với thiên nhiên. Quá trình xây dựng và thực hiện pháp luật về sử dụng các CCKT trong BVMT có rất nhiều quan hệ xã hội. Quan hệ giữa con người với con người trong điều chỉnh pháp luật về sử dụng các CCKT trong BVMT có thể là:

– Quan hệ giữa các cơ quan nhà nước với nhau trong quá trình xây dựng, thực hiện pháp luật về sử dụng các CCKT trong BVMT;

– Quan hệ giữa cơ quan quản lý nhà nước với các chủ thể sử dụng các công cụ kinh tế trong BVMT;

– Quan hệ giữa các chủ thể trong quá trình sử dụng các CCKT trong BVMT.  

Các quan hệ trên đòi hỏi phải điều chỉnh bằng pháp luật. Cần phải có nguyên tắc xử sự bắt buộc, được làm gì, không được làm gì và làm như thế nào để hướng chúng đi theo một trật tự nhất định, không thể là mối quan hệ tự phát. Có như vậy, môi trường mới được bảo vệ.

Với những đặc trưng cơ bản của công cụ kinh tế đã phân tích ở phần 2.1.2, các công cụ kinh tế hoàn toàn có tính tương phản với công cụ điều hành và kiểm soát. Khi chúng ta sử dụng công cụ kinh tế trong bảo vệ môi trường, trong nhiều trường hợp, chúng còn tạo ra khả năng ý thức tự nguyện chấp hành đối với những hành vi ứng xử với môi trường. Bên cạnh đó, với tư cách là một trong số các công cụ của quản lý môi trường, công cụ kinh tế có thể được sử dụng thay thế hoặc bổ sung cho các công cụ khác của quản lý môi trường.

Các quan hệ cơ bản phát sinh trong quá trình sử dụng các CCKT trong BVMT có nhu cầu điều chỉnh bằng pháp luật vì bên cạnh chức năng điều chỉnh, pháp luật còn có chức năng bảo vệ. Pháp luật là công cụ bảo vệ các quan hệ xã hội mà nó điều chỉnh. Khi các hành vi vi phạm pháp luật môi trường xảy ra, xâm phạm đến các quan hệ xã hội được pháp luật điều chỉnh thì các cơ quan nhà nước có thẩm quyền sẽ áp dụng các biện pháp cưỡng chế đối với các chủ thể có hành vi vi phạm.

Trong các biện pháp tác động tới các chủ thể tham gia vào hoạt động BVMT thì biện pháp pháp lý là sự thể chế hóa các yêu cầu BVMT bằng các quy định của pháp luật. Thông qua đó, quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm cụ thể của các tổ chức, cá nhân được thể hiện trong các quy định mang tính bắt buộc và đảm bảo thực hiện bằng sức mạnh cưỡng chế. Như vậy, một trong những đảm bảo quan trọng của biện pháp pháp lý chính là việc ban hành và tổ chức thực hiện các quy định của pháp luật về BVMT nói chung và pháp luật về sử dụng các CCKT trong BVMT nói riêng.

Pháp luật về sử dụng các CCKT trong BVMT tác động vào ý thức của con người, làm cho con người xử sự phù hợp với cách xử sự được quy định trong các quy phạm của pháp luật. Từ sự nhận thức này sẽ hướng con người đến những hành vi, cách xử sự phù hợp với lợi ích của xã hội, Nhà nước và của bản thân trong quá trình sử dụng, hưởng lợi từ môi trường. 

Như vậy, pháp luật về sử dụng các CCKT trong BVMT được quan niệm là một bộ phận của pháp luật môi trường, bao gồm hệ thống các quy phạm pháp luật, các nguyên tắc pháp lý về các chủ thể sử dụng các CCKT; quyền và nghĩa vụ của các chủ thể; trình tự, thủ tục và hình thức xử lý các vi phạm pháp luật BVMT.

2. Nội hàm của pháp luật về sử dụng các công cụ kinh tế trong bảo vệ môi trường

Nói đến pháp luật về sử dụng các CCKT trong BVMT là đề cập toàn bộ các văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh hoạt động BVMT khi tiến hành các hoạt động sản xuất, kinh doanh và những hoạt động khác có liên quan.

Hiện nay có nhiều quan niệm khác nhau về nội hàm pháp luật về sử dụng các CCKT trong BVMT. Có quan niệm cho rằng pháp luật về sử dụng các CCKT trong BVMT là toàn bộ các quy định của pháp luật do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành quy định về công tác BVMT trong các lĩnh vực khác nhau. Cơ sở của quan niệm này xuất phát từ đặc tính của hoạt động sản xuất, kinh doanh của các DN có tính liên ngành, liên vùng và xã hội hóa cao. Do vậy, tất cả các quy định về BVMT trong những ngành, lĩnh vực khác đều có tác động nhất định đến sử dụng các CCKT trong BVMT. Quan niệm này có phần rộng vì xét cho cùng môi trường có quan hệ chặt chẽ với sự phát triển của hoạt động sản xuất, kinh doanh nhưng mỗi ngành đều có những đặc thù riêng khi xác lập và thực hiện. Do vậy, nếu cho rằng pháp luật về sử dụng các CCKT trong BVMT bao gồm toàn bộ những quy định về BVMT thì phạm vi quá lớn.

Có quan niệm cho rằng pháp luật về sử dụng các CCKT trong BVMT gồm những quy phạm pháp luật do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành quy định cụ thể quyền và nghĩa vụ của các cơ quan quản lý nhà nước trong việc sử dụng các CCKT trong BVMT. Quan niệm này là chưa đầy đủ vì chủ thể sử dụng các CCKT trong BVMT bao gồm các tổ chức, cá nhân, cơ quan quản lý nhà nước…Do đó, chủ thể sử dụng các CCKT trong BVMT chỉ do cơ quan quản lý nhà nước thực hiện thì chưa chính xác.

Theo nghiên cứu sinh trong lĩnh vực môi trường, nội hàm pháp luật về sử dụng các CCKT trong BVMT bao gồm:

Thứ nhất, các quy định của pháp luật về sử dụng các CCKT trong BVMT có liên quan đến các hoạt động của các DN, cơ sở sản xuất, kinh doanh có tác động đến môi trường. Bộ phận này là tập hợp các quy phạm pháp luật về BVMT nói chung và pháp luật về sử dụng các CCKT trong BVMT nói riêng có nội dung liên quan trực tiếp đến hành vi của các chủ thể trong quá trình tiến hành các hoạt động sản xuất, kinh doanh gây ô nhiễm môi trường, cũng như quy định về việc thực hiện nghĩa vụ BVMT của các chủ thể tham gia quan hệ sản xuất, kinh doanh có tác động đến môi trường. Nhóm những quan hệ này bao gồm:

Một là, quy định của pháp luật về chính sách tài trợ trong quản lý BVMT như: pháp luật về ngân sách nhà nước trong BVMT và pháp luật về Quỹ BVMT

Hai là, quy định của pháp luật về nhóm các CCKT kích thích lợi ích kinh tế gồm: pháp luật về thuế BVMT; pháp luật về phí BVMT;

Ba là, quy định của pháp luật về nhóm các CCKT nâng cao trách nhiệm xã hội trong hoạt động BVMT bao gồm: pháp luật về ký quỹ để cải tạo, phục hồi môi trường trong hoạt động khai thác khoáng sản; pháp luật về đặt cọc – hoàn trả; pháp luật về nhãn sinh thái;

Thứ hai, pháp luật về sử dụng các CCKT trong BVMT bao gồm các thiết chế thực thi pháp luật BVMT nhằm đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong giai đoạn hiện nay. Đây là toàn bộ các quy định của pháp luật về chế tài xử phạt các hành vi vi phạm pháp luật trong BVMT.

3. Các nguyên tắc cơ bản của việc áp dụng pháp luật về sử dụng các công cụ kinh tế trong bảo vệ môi trường

Pháp luật về sử dụng các CCKT trong BVMT được xây dựng và tổ chức thực hiện dựa trên các nguyên tắc cơ bản đã được quốc tế thừa nhận, bao gồm:

3.1. Nguyên tắc người gây ô nhiễm phải trả tiền (Polluter Pays Principle – PPP)

Một trong những nguyên tắc quan trọng được áp dụng trong lĩnh vực quản lý môi trường ngày càng được phổ biến rộng rãi trên toàn thế giới đó là nguyên tắc PPP do Tổ chức hợp tác kinh tế và phát triển (Organization for Economic Cooperation and Development – OECD) soạn thảo năm 1972. Nguyên tắc này ra đời dựa trên cơ sở xem môi trường là một loại hàng hoá. Nguyên lý căn bản của PPP là việc yêu cầu giá cả của một hàng hoá hay dịch vụ phải được thể hiện đầy đủ trong tổng chi phí sản xuất ra, bao gồm các chi phí của tất cả các loại tài nguyên thiên nhiên được sử dụng cũng như giá trị tiêu hao của các thành phần môi trường. Nguyên tắc PPP yêu cầu những ai tác động vào môi trường phải trả tiền cho hành vi khai thác các thành phần môi trường, đó chính là “cái giá” mà một chủ thể phải bỏ ra để mua loại hàng hoá môi trường vào phục vụ nhu cầu của mình.

Đây cũng chính là cơ sở chủ yếu tạo ra những CCKT dùng để quản lý môi trường, nhất là trong việc kiểm soát ô nhiễm. Tính linh hoạt và hiệu quả kinh tế là hai yếu tố quan trọng làm cho các CCKT ngày càng được sử dụng rộng rãi trên thế giới trong vấn đề BVMT, nhất là trong quản lý chất lượng môi trường và kiểm soát ô nhiễm. Theo Báo cáo điều tra của OECD năm 1994, trong số 14 nước được điều tra đã có đến 150 loại CCKT được đề xuất và áp dụng. Có một hệ thống các công cụ khuyến khích kinh tế nhằm định hướng hành vi tích cực vào môi trường đang được áp dụng rộng rãi tại các quốc gia, nhất là tại các nước OECD, gồm các công cụ chủ yếu sau đây:

– Tạo lập thị trường và hỗ trợ thị trường được thực hiện trên cơ sở luật lệ hay các quy định được thay đổi như: việc tạo lập thị trường mua bán quyền phát thải trên cơ sở giấy phép phát thải, đấu giá hạn ngạch thải…

– Thay đổi trực tiếp các mức giá cả hoặc chi phí xảy ra khi có sự thay đổi về lệ phí, phí theo sản phẩm, theo việc phát thải… hay hệ thống ký thác hoàn trả.

– Thay đổi gián tiếp các mức giá cả hoặc chi phí xảy ra khi có sự trợ cấp trực tiếp, tín dụng ưu đãi hay khuyến khích tài chính nhằm áp dụng công nghệ sạch cho môi trường, khuyến khích các hành vi kinh tế để thực thi các chính sách về môi trường.

Việc áp dụng các CCKT này dựa trên cơ sở các quy luật thị trường và cơ chế về giá mà đối tượng áp dụng của các công cụ này chính là môi trường. Nói cách khác, các CCKT là những phương thức trao đổi, mua bán loại hàng hóa môi trường, đó chính là những hình thái thể hiện của việc thương mại hóa môi trường. Do các CCKT được áp dụng ngày càng phổ biến trên thế giới trong quản lý môi trường nên tạo thành một “xu hướng” – đó chính là xu hướng thương mại hoá môi trường.           

Trong thời gian gần đây, nguyên tắc “Người gây ô nhiễm phải trả tiền” còn được củng cố bằng nhiều nguyên tắc cơ bản khác như: “nguyên tắc phòng ngừa”, “nguyên tắc cấp dưới”,“nguyên tắc hiệu quả kinh tế, tiết kiệm chi phí” và “nguyên tắc hiệu quả về luật pháp” góp phần tạo ra thế chủ đạo cho việc hoạch định các chính sách môi trường.

3.2. Nguyên tắc người hưởng thụ phải trả tiền (Beneficiary Pay Principle –BPP)

Nguyên tắc BPP chủ trương tạo lập một cơ chế nhằm đạt được các mục tiêu về môi trường. Người được hưởng một môi trường đã được cải thiện cũng phải trả một khoản chi phí. Tất cả những người được hưởng lợi do có được môi trường trong lành không bị ô nhiễm thì phải nộp phí. Nguyên tắc BPP cho rằng việc phòng ngừa ô nhiễm và cải thiện môi trường cần được hỗ trợ từ phía những người muốn được thay đổi hoặc những người không phải trả giá cho các chất thải gây ô nhiễm môi trường.

Khi thực hiện nguyên tắc BPP chúng ta sẽ tạo ra một khoản thu đáng kể. Mức thu phí theo đầu người càng cao và càng có nhiều người nộp phí thì số tiền thu được càng nhiều. Nếu mức phí có thể được thu đủ để dành cho các mục tiêu môi trường thì lúc đó chính sách này có thể được coi là chính sách có hiệu quả về môi trường. Với mục đích nhằm BVMT, nguyên tắc BPP nhận được ủng hộ rộng rãi của công chúng.

Xét về mặt hiệu quả kinh tế, nguyên tắc BPP là nguyên tắc có tính phù hợp cao vì hiệu quả kinh tế chỉ có thể đạt được nếu các nguồn thu được sử dụng ở mức tối ưu. Do vậy, nếu việc định mức phí, lệ phí môi trường đưa ra ở mức tối ưu và khoản phí thu được chủ yếu phục vụ cho các biện pháp cụ thể có liên quan đến BVMT thì nó có thể đạt được hiệu quả kinh tế. Tuy nhiên, nguyên tắc BPP lại chưa đáp ứng được tính công bằng kinh tế vì các công ty có thể sử dụng nguồn lợi môi trường để sản xuất ra hàng hoá và dịch vụ nhưng đã có người khác phải chịu chi phí đó, nghĩa là họ không trả đủ chi phí cho hàng hóa và dịch vụ mà họ tiêu thụ trên thị trường.

3.3. Nguyên tắc kích thích lợi ích kinh tế

Nguyên tắc kích thích lợi ích kinh tế xuất phát từ một thực tế không thể phủ nhận đó là: lợi ích là động lực thúc đẩy con người tiến hành các hoạt động kinh tế – xã hội, đặc biệt là lợi ích kinh tế. Bởi lẽ, mỗi một con người hay xã hội muốn tồn tại và phát triển thì nhu cầu của họ phải được đáp ứng. Mà lợi ích và nhu cầu có mối quan hệ mật thiết với nhau. Lợi ích bắt nguồn từ nhu cầu và là cái để đáp ứng nhu cầu. Trong hệ thống lợi ích của con người nói chung bao gồm lợi ích kinh tế, lợi ích chính trị, tư tưởng, văn hoá – xã hội thì lợi ích kinh tế giữ vai trò quyết định nhất vì nó gắn liền với nhu cầu vật chất, nhằm đáp ứng nhu cầu vật chất – là nhu cầu cơ bản nhất cho sự tồn tại và phát triển của con người, của xã hội và khi đời sống vật chất của con người được đảm bảo thì đời sống tinh thần cũng mới được nâng cao. Chính vì thế, lợi ích kinh tế giữ vai trò quan trọng nhất, quyết định nhất, là cơ sở, nền tảng cho sự tồn tại và phát triển của mỗi con người nói riêng, cũng như xã hội nói chung. Vì thế có thể khẳng định rằng mọi nguyên nhân suy cho cùng đều là động lực kinh tế và chính lợi ích kinh tế giữ vai trò động lực cho các hoạt động kinh tế – xã hội.

Nội dung của nguyên tắc kích thích lợi ích kinh tế bằng việc áp dụng các CCKT trong BVMT là dùng lợi ích kinh tế – lợi ích vật chất để kích thích con người tiến hành các hoạt động có lợi cho môi trường. Quản lý môi trường trước hết là quản lý các hoạt động phát triển do con người (cá nhân hay cộng đồng) tiến hành tổ chức và phát huy tính tích cực hoạt động của mình vì mục đích phát triển bền vững. Con người dù cá nhân, tập thể hay cộng đồng đều có những lợi ích, nguyện vọng và những nhu cầu nhất định. Do đó, một trong những nhiệm vụ quan trọng của quản lý môi trường là phải chú trọng đến lợi ích con người để khuyến khích họ có hành vi và thái độ ứng xử phù hợp với mục tiêu BVMT của họ. Lợi ích không những là sự vận động tự giác, chủ quan của con người nhằm thoả mãn một nhu cầu nào đó của mình mà còn là động lực nhằm phát huy tính tích cực, chủ động của con người và là phương tiện hữu hiệu quản lý và BVMT nên phải sử dụng nó để khuyến khích các hoạt động có lợi cho môi trường.

3.4. Nguyên tắc sử dụng nguồn tài chính tập trung

Theo quy định tại điều 110 Luật BVMT năm 2005 thì NSNN là một trong những nguồn tài chính để BVMT. Theo quy định tại điều 31 Luật NSNN năm 2002 thì chi cho môi trường là một trong những nhiệm vụ chi thường xuyên của NSNN. Tương tự, tại khoản 2 điều 110 Luật BVMT năm 2005 quy định: “NSNN có mục chi thường xuyên cho sự nghiệp môi trường phù hợp với yêu cầu BVMT của từng thời kỳ, hàng năm, bảo đảm tỷ lệ tăng chi ngân sách cho sự nghiệp môi trường cao hơn tăng chi NSNN”. Đó là hoạt động “nhằm sử dụng quỹ NSNN, là quá trình phân phối nguồn tiền tệ nằm trong quỹ NSNN để chi dùng vào những mục đích khác nhau” [115, tr.79], cụ thể ở đây là nhằm mục đích quản lý và BVMT. Vì thế, khi sử dụng NSNN trong quản lý và BVMT phải đảm bảo các khoản chi phải được hạch toán kế toán, quyết toán đầy đủ, kịp thời, đúng chế độ và tuân theo các nguyên tắc cơ bản của hoạt động sử dụng NSNN. Cùng với NSNN, các Quỹ BVMT cũng là một trong các nguồn tài chính để BVMT. Các Quỹ BVMT là các tổ chức tài chính, vì thế trong quá trình sử dụng nguồn lực tài chính của mình để thực hiện các hoạt động có lợi cho môi trường thì ngoài việc tuân thủ các điều lệ hoạt động của Quỹ, còn phải tuân thủ các chế độ kế toán, hoá đơn, chứng từ theo pháp luật kế toán hiện hành.

4. Tiêu chí cơ bản xác định mức độ phù hợp của pháp luật về sử dụng các công cụ kinh tế trong bảo vệ môi trường

Để đánh giá mức độ phù hợp của pháp luật về sử dụng các CCKT trong BVMT cần phải dựa vào những tiêu chí nhất định được xác định trên cơ sở lý luận, từ đó liên hệ với điều kiện và hoàn cảnh thực tiễn xem xét những yếu tố khách quan, chủ quan, phân tích những ưu điểm, nhược điểm của những quy định pháp luật này. Có nhiều tiêu chí khác nhau để xác định mức độ phù hợp của pháp luật về sử dụng các CCKT trong BVMT, trong đó có bốn tiêu chí cơ bản, cụ thể:

– Tính toàn diện của pháp luật về sử dụng các CCKT trong BVMT. Tính toàn diện được thể hiện ở chỗ: 

Thứ nhất, pháp luật về sử dụng các CCKT trong BVMT phải có đầy đủ các bộ phận cấu thành của nó. Đó là tập hợp các quy định của pháp luật về điều chỉnh hành vi của các chủ thể, quyền và nghĩa vụ, trình tự, thủ tục, chế tài xử phạt các hành vi vi phạm pháp luật trong BVMT.

Thứ hai, mỗi bộ phận cấu thành phải có những quy phạm pháp luật quy định về quyền và nghĩa vụ của các tổ chức, cá nhân trong việc sử dụng các CCKT trong BVMT…

– Tính đồng bộ của pháp luật về sử dụng các CCKT trong BVMT. Tính đồng bộ thể hiện sự thống nhất của pháp luật. Đó là sự đồng bộ giữa các bộ phận cấu thành pháp luật về sử dụng các CCKT trong BVMT. Theo đó, các quy định của pháp luật về sử dụng các CCKT trong BVMT và những lĩnh vực liên quan cần loại bỏ sự trùng lặp, chồng chéo hoặc mâu thuẫn. Ở mức độ cao hơn, trong mỗi bộ phận cấu thành này phải tạo ra được một nhóm hoặc một hệ thống quy phạm pháp luật cơ bản để tạo cơ sở củng cố tính thống nhất của cả bộ phận. Đồng thời, các quy phạm pháp luât cụ thể trong mỗi bộ phận cấu thành, cũng phải thống nhất, không mâu thuẫn, chồng chéo với nhau.

– Tính phù hợp của pháp luật về sử dụng các CCKT trong BVMT 

Tính phù hợp thể hiện ở sự tương quan giữa nội dung, yêu cầu và mục tiêu của pháp luật về sử dụng các CCKT trong BVMT với mức độ phát triển, trình độ hiểu biết của các DN. Tiêu chí này không cho phép pháp luật được xây dựng vượt ra ngoài khả năng đáp ứng của các quan hệ xã hội trong lĩnh vực này nhưng cũng không thể thấp hơn trình độ của các quan hệ xã hội đó. Tính phù hợp thể hiện ở nhiều mặt, nhiều lĩnh vực khác nhau. Khi đánh giá tiêu chí này, cần đặt pháp luật trong những mối quan hệ cụ thể như với trình độ phát triển kinh tế, ý thức chính trị, truyền thống xã hội…, từ đó rút ra những bất cập, thiếu sót của pháp luật để sửa đổi, bổ sung cho phù hợp.

– Pháp luật về sử dụng các CCKT trong BVMT phải được xây dựng ở trình độ kỹ thuật pháp lý cao

Kỹ thuật pháp lý cao là một vấn đề tương đối rộng, phức tạp. Mỗi một quốc gia, khu vực có quan niệm riêng về trình độ kỹ thuật pháp lý. Ở Việt Nam hiện nay vẫn còn nhiều ý kiến khác nhau về kỹ thuật pháp lý “cao” trong xây dựng và hoàn thiện pháp luật. Tuy nhiên, có một số điểm cơ bản nhận được sự đồng thuận chung của cá nhà làm luật về một trình độ pháp lý cao, đó là:

+ Khi xây dựng và hoàn thiện pháp luật, nhà làm luật phải xác định được những nguyên tắc tối ưu nhất, xuyên suốt toàn bộ quá trình này. Đây sẽ là những tư tưởng, ý chí chủ đạo định hướng cho toàn bộ các hoạt động xây dựng và hoàn thiện pháp luật.

+ Trình độ kỹ thuật pháp lý thể hiện ở việc xác định chính xác cơ cấu của pháp luật. Ví dụ: trong việc xây dựng và hoàn thiện pháp luật về sử dụng các CCKT trong BVMT, cơ quan có thẩm quyền phải xác định chính xác những bộ phận cấu thành của hệ thống pháp luật này, vai trò, nhiệm vụ của từng bộ phận.

+ Trình độ kỹ thuật pháp lý cao còn thể hiện ở chỗ ngôn ngữ pháp lý phải đảm bảo tính cô đọng, chính xác, logic và không đa nghĩa.

Ngoài những tiêu chí cơ bản nêu trên, pháp luật về sử dụng các CCKT trong BVMT được xây dựng và hoàn thiện trong xu thế hội nhập, tiếp cận với trình độ, mặt bằng chung của các quốc gia phát triển trên thế giới; bên cạnh đó, còn phải đáp ứng một số tiêu chí khác đang đóng vai trò quan trọng và rất cần thiết trong thời điểm hiện nay, đó là: tính minh bạch, tính công khai, tính dễ tiếp cận của pháp luật về sử dụng các CCKT trong BVMT.

5. Nguồn của pháp luật về sử dụng các công cụ kinh tế trong bảo vệ môi trường

Trong việc thực hiện các quy phạm pháp luật về BVMT nói chung cũng như nghiên cứu khoa học pháp lý về sử dụng các CCKT trong BVMT, vấn đề quan trọng là cần xác định được những văn bản pháp luật chứa đựng các quy phạm pháp luật đó, tức là xác định nguồn của pháp luật về sử dụng các CCKT trong BVMT. Dưới góc độ pháp lý, đây là những văn bản quy phạm pháp luật do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành hoặc phê chuẩn theo những thủ tục, trình tự và dưới những hình thức nhất định, có nội dung chứa đựng những quy phạm pháp luật về sử dụng các CCKT trong BVMT. Trên thực tế, khi nghiên cứu nguồn của bất kỳ ngành luật nào trong những thời điểm nhất định chúng ta cần xem xét những văn bản có hiệu lực thi hành ở thời điểm đó.

Nguồn của pháp luật về sử dụng các CCKT trong BVMT bao gồm hệ thống những văn bản pháp luật do nhiều cơ quan có thẩm quyền của Nhà nước Việt Nam ban hành. Cũng như nguồn của nhiều ngành luật, lĩnh vực khác, nguồn của pháp luật về sử dụng các CCKT trong BVMT rất đa dạng về hình thức. Nhiều quy phạm pháp luật được ban hành trong văn bản pháp luật chung và văn bản pháp luật riêng về lĩnh vực môi trường. Chính vì vậy, việc xác định nguồn của pháp luật về sử dụng các CCKT trong BVMT có ý nghĩa trong việc xác định hiệu lực của các quy phạm pháp luật.

Công cụ pháp lý được xem là công cụ hữu hiệu và mang lại kết quả nhanh, là một trong những công cụ không thể thiếu trong chiến lược quản lý và BVMT. Hơn thế nữa, hoạt động BVMT không chỉ dừng lại trong phạm vi một quốc gia mà còn ở quy mô quốc tế. Các văn bản luật quốc tế về môi trường được hình thành một cách chính thức từ thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX, giữa các quốc gia Châu Âu, Châu Mỹ, Châu Phi. Từ hội nghị quốc tế về “Môi trường con người” tổ chức năm 1972 tại Thụy Điển và sau Hội nghị thượng đỉnh Rio 92 ở Brazil đã có rất nhiều văn bản về luật quốc tế được soạn thảo và ký kết. Cho đến nay, đã có hàng ngàn văn bản luật quốc tế về môi trường, trong đó nhiều văn bản đã được Chính phủ Việt Nam tham gia ký kết như: Công ước Chicago về hàng không dân dụng quốc tế (1944); Thoả thuận về thiết lập Uỷ ban nghề cá Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương (1948); Hiệp ước về khoảng không ngoài vũ trụ (1967); Công ước về các vùng đất ngập nước có tầm quan trọng quốc tế, đặc biệt như là nơi cư trú của các loài chim nước – RAMSAR (1971 và 1988); Nghị định thư bổ sung Công ước về các vùng ngập nước có tầm quan trọng, đặc biệt như là nơi cư trú của các loài chim nước (Paris 1982); Công ước liên quan đến bảo vệ các di sản văn hoá và tự nhiên (1982); Công ước về cấm phát triển, sản xuất và tàng trữ vũ khí hoá học, vi trùng và việc tiêu huỷ chúng; Công ước về buôn bán quốc tế về các giống loài động thực vật có nguy cơ bị đe dọa (1973 và 1994); Công ước về ngăn ngừa ô nhiễm do tàu biển MARPOL (29/8/1991); Công ước của Liên hợp quốc về sự biến đổi môi trường (26/8/1980); Nghị định thư Chữ thập đỏ liên quan đến bảo vệ nạn nhân của các cuộc xung đột vũ trang; Công ước của Liên hợp quốc về Luật biển (25/7/1994); Cam kết quốc tế về phổ biến và sử dụng thuốc diệt côn trùng (FAO 1985); Công ước Viên về bảo vệ tầng ozone (1985 và 1994); Công ước về thông báo sớm sự cố hạt nhân (IAEA 1985 và 1987); Công ước về trợ giúp trong trường hợp sự cố hạt nhân hoặc cấp cứu phóng xạ (IAEA 1986 và 1987); Nghị định thư Montreal về các chất làm suy giảm tầng ô-zôn (1987 và 1984); Bản bổ sung London cho công ước London (1990); Bản bổ sung Copenhagen (1992); Thoả thuận về mạng lưới các trung tâm thuỷ sản ở Châu Á – Thái Bình Dương (1988 và 1989); Công ước Basel về kiểm soát việc vận chuyển qua biên giới chất thải độc hại và việc loại bỏ chúng (13/5/1995); Công ước khung của Liên hợp quốc về biến đổi khí hậu (1992 và 1994); Công ước về Đa dạng sinh học (1992 và 1994).

Trong phạm vi quốc gia, vấn đề môi trường đã được đề cập trong nhiều văn bản pháp luật, trong đó Luật BVMT năm 1993 là văn bản quan trọng nhất. Để cụ thể hóa, Chính phủ đã ban hành Nghị định 175/CP ngày 18/10/1994 hướng dẫn thi hành Luật BVMT. Năm 2005, Luật BVMT được thông qua ngày 29/11/2005 đã thay thế cho Luật BVMT năm 1993. Luật BVMT năm 2005 quy định những hành vi vi phạm pháp luật về BVMT, giữ gìn vệ sinh môi trường nơi công cộng bị xử lý bằng các biện pháp: phạt tiền, buộc lao động vệ sinh môi trường có thời hạn ở nơi công cộng, tạm giữ phương tiện có liên quan gây ra ô nhiễm môi trường (Điều 52). Ngày 31/12/2009, Chính phủ cũng đã ban hành Nghị định số 117/2009/NĐ-CP về xử lý vi phạm pháp luật trong lĩnh vực BVMT và ngày 14/11/2013, Chính Phủ ban hành Nghị định số 179/2013/NĐ-CP về xử lý vi phạm pháp luật trong lĩnh vực bảo vệ môi trường thay thế Nghị định 117/2009/NĐ – CP. Bộ luật Hình sự (BLHS) năm 1985 quy định về tội vi phạm các quy định về BVMT gây hậu quả nghiêm trọng và một số tội khác có liên quan như: tội vi phạm các quy định về bảo vệ đất đai (Điều 180), tội vi phạm các quy định về quản lý và bảo vệ rừng (Điều 181), tội vi phạm các quy định về chất cháy, chất nổ, chất phóng xạ (Điều 192), tội vi phạm các quy định về vệ sinh thực phẩm gây hậu quả nghiêm trọng (Điều 197)… và tiếp tục được quy định trong BLHS năm 1999 với một chương riêng (Chương XVII) quy định các tội phạm về môi trường; Luật sửa đổi bổ sung một số điều của BLHS năm 2009 bổ sung thêm một số điều cụ thể hơn trong lĩnh vực môi trường như: tội gây ô nhiễm môi trường (Điều 182); tội vi phạm quy định về quản lý chất thải nguy hại (Điều 182a); tội vi phạm quy định về phòng ngừa sự cố môi trường (Điều 182b); tội đưa chất thải vào lãnh thổ Việt Nam (Điều 185); tội làm lây lan dịch bệnh nguy hiểm cho người (Điều 186); tội làm lây lan dịch bệnh nguy hiểm cho động vật, thực vật (Điều 187); tội huỷ hoại nguồn lợi thuỷ sản (Điều 188); tội huỷ hoại rừng (Điều 189); tội vi phạm các quy định về bảo vệ động vật thuộc danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ (Điều 190); tội vi phạm các quy định về quản lý khu bảo tồn thiên nhiên (Điều 190); tội nhập khẩu, phát tán các loài ngoại lai xâm hại (Điều 191a) và hàng loạt các Thông tư, Quyết định của các ngành chức năng về thực hiện pháp luật BVMT đã được ban hành. Một số tiêu chuẩn môi trường chủ yếu được soạn thảo và thông qua. Nhiều khía cạnh BVMT cũng được đề cập trong các văn bản khác như Luật Khoáng sản, Luật Dầu khí, Bộ luật Hàng hải, Bộ luật Lao động, Luật Đất đai, Luật Bảo vệ và phát triển rừng, Luật Bảo vệ sức khoẻ của nhân dân, Pháp lệnh về đê điều, Pháp lệnh về việc bảo vệ nguồn lợi thuỷ sản, Pháp lệnh bảo vệ các công trình giao thông. Riêng đối với hệ thống văn bản pháp luật liên quan đến trách nhiệm tài chính của các chủ thể đối với môi trường thì được đề cập đến trong nhiều văn bản như Luật Thuế tiêu thụ đặc biệt (1998, 2005, 2008), Luật Thuế tài nguyên (2008), Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp (2005, 2008), Luật Thuế BVMT (2012) … Hiện nay, Việt Nam cũng đã xây dựng được một số văn bản quy phạm pháp luật quy định về thuế, phí BVMT để triển khai áp dụng phù hợp với đặc điểm kinh tế – xã hội của Việt Nam. Cụ thể:

Luật Thuế BVMT 

Phí môi trường: bao gồm

Phí BVMT đối với nước thải

Phí BVMT đối với nước thải chia thành 2 loại phí là: phí BVMT đối với nước thải sinh hoạt, phí BVMT đối với nước thải công nghiệp được quy định trong các văn bản sau:

– Nghị định 67/NĐ-CP về thu phí BVMT đối với nước thải được Thủ tướng Chính phủ ký ban hành từ giữa tháng 6 năm 2003 và có hiệu lực từ ngày 1/1/2004. 

– Nghị định số 04/2007/NĐ-CP ngày 08/11/2007 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều Nghị định số 67/2003/NĐ – CP ngày 13/6/2003 của Chính phủ về phí BVMT đối với nước thải.

– Nghị định số 26/2010/NĐ-CP ngày 22/03/2010 về việc sửa đổi, bổ sung một số điều Nghị định số 67/2003/NĐ-CP 

– Nghị định số 25/2012/NĐ – CP ngày 29/3/2013 về phí BVMT đối với nước thải.

–  Thông tư liên tịch 125/2003/TTLT-BTC-BTNMT hướng dẫn thực hiện Nghị định 67.

–  Thông tư liên tịch 106/2007/TTLT/BTC-BTNMT sửa đổi, bổ sung Thông tư liên tịch 125/2003/TTLT-BTC-BTNMT. 

–  Nghị định 04/2007/NĐ-CP ngày 8/1/2007 về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 67/2003/NĐ-CP. 

– Nghị định số 26/2010/NĐ-CP ngày 22/03/2010 về việc sửa đổi, bổ sung một số điều Nghị định số 67/2003/NĐ-CP

Phí BVMT đối với chất thải rắn:

Phí BVMT đối với chất thải rắn (CTR) được triển khai thực hiện bắt đầu từ năm 2007 và được quy định cụ thể trong các văn bản sau:

– Nghị định 174/2007/NĐ-CP của Chính phủ ngày 29/11/2007 về phí bảo vệ môi trường đối với chất thải rắn;

–  Thông tư 39/2008/TT-BTC ngày 9/5/2008 của Bộ Tài chính

Phí BVMT đối với khai thác khoáng sản:

Phí BVMT đối với hoạt động khai thác khoáng sản được thực hiện bắt đầu từ năm 2006, áp dụng đối với hoạt động khai thác khoáng sản kim loại và phi kim loại và được quy định cụ thể trong văn bản Nghị định số 74/2011/NĐ – CP ngày 25/8/2011 của Chính phủ về phí bảo vệ môi trường đối với khai thác khoáng sản.

Đặt cọc – hoàn trả 

Ký quỹ môi trường

Ở Việt Nam, công cụ ký quỹ môi trường hiện nay đang được áp dụng chủ yếu trong hoạt động khai thác khoáng sản nhằm đảm bảo trách nhiệm phục hồi môi trường trong khai thác tài nguyên. Môi trường khoáng sản là một trong những lĩnh vực đã thực hiện kinh tế hóa khá sớm ở nước ta với những quy định về phí BVMT và cải tạo phục hồi môi trường trong quá trình khai thác khoáng sản theo Luật Khoáng sản năm 1996. Ngoài ra, ký quỹ môi trường trong khai thác khoáng sản còn được quy định cụ thể trong các văn bản pháp luật sau:

– Thông tư liên bộ 126/1999/TTLT – BTC – BCN – KHCN&MT ngày 22/10/1999 của  Bộ Tài chính – Bộ Công nghiệp – Bộ Khoa học Công nghê và Môi trường hướng dẫn  việc ký quỹ để phục hồi môi trường trong khai thác khoáng sản.

– Quyết định 71/QĐ-TTg ngày 29/5/2008 của Thủ tướng Chính phủ về ký quỹ cải tạo, phục hồi môi trường đối  với hoạt động khai thác khoáng sản (thay thế Thông tư 126/1999/TTLT – BTC-BCN- KHCN&MT).

– Thông tư 34/2009/TT-BTNMT ngày 31 tháng 12 năm 2009 của Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định về việc phê duyệt, kiểm tra, xác nhận Dự án cải tạo, phục hồi môi trường và ký quỹ cải tạo, phục hồi môi trường đối với hoạt động khai thác khoáng sản. Thông tư nàý cũng quy định chi tiết một số nội dung của Quyết định 71/2008/QĐ-TTg ngày 29/5/2008 của Thủ tướng Chính phủ về ký quỹ cải tạo, phục hồi môi trường đối với hoạt động khai thác khoáng sản.

Bên cạnh đó, để có kế hoạch khai thác nguồn lợi thủy hải sản ven bờ bền vững, đồng thời hạn chế và giảm thiểu ô nhiễm vùng ven biển, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định 358/TTg ngày 29/5/1997 về ưu đãi đối với hoạt động khai thác hải sản ở vùng biển xa bờ. Theo đó, các tổ chức, cá nhân có tàu, thuyền hoạt động khai thác hải sản ở vùng biển xa bờ được hưởng một số ưu đãi về thuế tài nguyên, thuế giá trị gia tăng, thuế thu nhập doanh nghiệp và lệ phí trước bạ.

Hệ thống các văn bản pháp luật trong nước và quốc tế đã được Nhà nước Việt Nam phê duyệt là cơ sở quan trọng để thực hiện công tác quản lý Nhà nước về BVMT. Hiện nay, Việt Nam đang tiếp tục nghiên cứu hoàn thiện chính sách thuế, phí, các chính sách khác liên quan đến môi trường nhằm tăng cường hơn nữa công tác quản lý, kiểm soát và BVMT, hạn chế ô nhiễm, suy thoái môi trường, đảm bảo phát triển kinh tế – xã hội bền vững.