Categories
Main

Quan niệm, đặc điểm và vai trò của nền nông nghiệp công nghệ cao

Nhanlamluanvan.com xin chia sẻ đến bạn khái niệm, đặc điểm, vai trò và các tiêu chí đánh giá nền nông nghiệp công nghệ cao.

Quan niệm, đặc điểm và vai trò của nền nông nghiệp công nghệ cao

>>> Xem thêm: Một số vấn đề lý luận về giải quyết việc làm ở nông thôn

1. Quan niệm về nền nông nghiệp công nghệ cao

1.1. Ở Tây Âu

Các quốc gia Tây Âu cho rằng: NNCNC là nền NN tiên tiến trong nền KTXH hiện đại hóa, cơ giới hóa cao, trên cơ sở vận dụng những thành tựu CNSH, sinh thái và môi trường; hướng nhu cầu của xã hội và sự phát triển NN theo hướng bền vững, an toàn như NN xanh, NN hữu cơ, NN sinh thái học,…; đảm bảo tạo ra đủ số lượng và chất lượng cao đáp ứng nhu cầu tiêu dùng ngày càng cao của xã hội và nền SX đó không làm thay đổi môi trường sinh thái tự nhiên [5].

Quan niệm này, NNCNC không loại trừ việc sử dụng phân hóa học, thuốc bảo vệ thực vật nhưng sử dụng chúng một cách hợp lý hơn nhằm bảo vệ môi trường sinh thái; đồng thời ứng dụng thành tựu KHCN vào trong SX như CNSH, tự động hóa, CNTT, … nhằm nâng cao năng suất, chất lượng và sản lượng cây trồng vật nuôi, và tạo ra một nền NN theo hướng phát triển bền vững.

1.2. Ở Trung Quốc

Các nhà KH Trung Quốc cho rằng: Việc ứng dụng CN mới như CNSH, CNTT, công nghệ vũ trụ, tự động hóa, vật liệu mới, năng lượng mới, laser,… vào SXNN làm ảnh hưởng đến tiến bộ KHCN, kinh tế NN và có thể hình thành công nghệ cao, công nghệ mới của ngành SXNN, đều có thể gọi là NNCNC [5].

Theo quan niệm này, khái niệm NNCNC với nội dung bao hàm CN hóa và hiện đại hóa nền SXNN nhưng chú trọng hiệu quả kinh tế thiên về số lượng hơn; theo họ NNCNC khi đáp ứng yêu cầu xã hội với quy trình SX giảm được 30% chi phí, đồng thời phải tăng được ít nhất là 30% sản lượng và giá trị nông sản.

1.3. Ở Ấn Độ

Tại Ấn Độ, thuật ngữ “NNCNC” ra đời vào năm 1999 với nội dung: Là tất cả kỹ thuật công nghệ hiện đại, ít phụ thuộc vào môi trường được đưa vào SXNN, tập trung vốn cao và có khả năng làm gia tăng năng suất và chất lượng nông sản. Các kỹ thuật công nghệ hiện đại này có thể là công nghệ biến đổi gen, vi nhân giống, SX giống lai, công nghệ tưới và bón phân nhỏ giọt, quản lý dịch hại tổng hợp, canh tác hữu cơ, cây trồng không cần đất, trồng cây trong nhà có mái che, kỹ thuật chẩn đoán nhanh bệnh và vi khuẩn, công nghệ cao trong thu hoạch và bảo quản [5].

Như vậy, quan niệm NNCNC ở Ấn Độ thiên về năng suất và hiệu quả kinh tế bằng cách áp dụng nhiều thành tựu KHCN hiện đại trong SX nhưng không quan tâm đến vấn đề bảo vệ môi trường và phát triển NN bền vững.

1.4. Ở Việt Nam

Theo Huỳnh Ngọc Điền: 

NNCNC là tổng hợp những công nghệ tiên tiến nhất trên thế giới, bao gồm những công nghệ cốt lõi, trình độ cao và tiến bộ, cũng như những ngành CN mới và kỹ thuật phục vụ NN. Công nghệ cao ứng dụng trong NN dựa trên bốn ngành chính là KH về cuộc sống, điện tử, vật liệu và tin học.

Theo quan niệm này, NNCNC chủ yếu nhấn mạnh khía cạnh áp dụng công nghệ cao vào SXNN nhằm tạo ra năng suất và chất lượng SP, chưa đề cập khía cạnh sinh thái và xã hội.

Theo Nguyễn Tấn Hinh: 

NNCNC là NN có hàm lượng cao về KH và phát triển công nghệ, được tích hợp từ các thành tựu KHCN hiện đại như CNSH, CNTT, tự động hóa, vật liệu mới,… Và còn thể hiện ở việc quản lý SX và chất lượng nguồn lao động trong NN.

Ngoài việc áp dụng các thành tựu KHCN để nâng cao năng suất, chất lượng nông sản và hiệu quả kinh tế, quan niệm này còn chú ý đến vấn đề xã hội là quản lý SX và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. 

Theo Cao Kỳ Sơn: 

NNCNC là nền NN áp dụng công nghệ hiện đại; trong đó tạo mọi điều kiện thuận lợi để cây trồng phát triển tốt, tiến tới năng suất tiềm năng, đảm bảo chất lượng SP; thêm vào đó là bảo quản nông sản tốt và tổ chức quản lý SX hợp lý để đạt hiệu quả kinh tế cao.

Quan niệm này đề cập đến vấn đề hiệu quả KT – XH nhưng đối tượng áp dụng là cây trồng, chưa đề cập đến đối tượng vật nuôi và cũng chưa quan tâm đến yếu tố môi trường sinh thái.

Như vậy, mặc dù có nhiều quan niệm về NNCNC nhưng nhìn chung: NNCNC là một nền NN áp dụng công nghệ cao trong SX như CNSH, CNTT, vật liệu mới, tự động hóa,… trong các khâu của quá trình SX kết hợp với kỹ năng quản lý và tiếp cận thị trường để tạo ra SP có năng suất cao, chất lượng tốt, đáp ứng yêu cầu thị trường. Độ cao ý thức của nền NN này chính là tầm cao về trình độ ứng dụng KHCN hiện đại vào SX và hiệu quả kinh tế của nó so với tầm cao phát triển của lịch sử ngành NN thế giới. Đó chính là sự nổ lực tuyệt đối, chạy đua với thời gian về KHCN và ứng dụng chúng vào SXNN nhằm mang hiệu quả như mong muốn.

2. Đặc điểm

– NNCNC vẫn là hoạt động NN nên đối tượng SX chính vẫn là cây trồng và vật nuôi nhưng bản chất của chúng có thể thay đổi dưới tác dụng của KHCN. Vì thế, NNCNC tạo ra những giống cây con mới cho năng suất cao, chất lượng tốt và thời gian sinh trưởng ngắn hơn. 

– Đất trồng dần dần được thay thế bằng các giá thể hay dung dịch chất dinh dưỡng nhưng đất trồng ngày càng có giá trị cao hơn do diện tích ngày càng bị thu hẹp mà các hoạt động của NNCNC đều tiến hành trên nền của đất. 

– NNCNC là nền NN được tích hợp bởi nhiều công nghệ với trình độ chất xám cao. Hoạt động NN không chỉ đầu tư vào kiến thức nông học mà còn phải NC và ứng dụng các ngành KHCN khác vào trong SX của mình. Thêm vào đó, mỗi ngành KH lại liên quan đến nhiều ngành KH khác nhau nhưng chúng đều có mối quan hệ tác động lẫn nhau và được ứng dụng trong SXNN ngày càng sâu rộng.

– Việc ứng dụng công nghệ cao trong NN đã tạo ra phương thức SXNN theo hướng SXCN tập trung, hàng hóa được tạo ra với khối lượng lớn. Các xí nghiệp NN được xây dựng theo kiểu mới, có sự đồng nhất về công nghệ, kỹ thuật và tính chuyên môn sâu

– Quy trình SX khép kín từ khâu NC, ứng dụng SX đến tiêu thụ nông sản. Thị trường tiêu thụ nông sản ứng dụng công nghệ cao mang tính hàng hóa lớn và tập trung; thị trường tập trung theo kiểu “bao thầu trọn gói” từ thị trường đầu vào cho đến thị trường đầu ra và thường do một công ty hay doanh nghiệp điều hành. 

– Việc ứng dụng kỹ thuật máy tính vào NN ngoài những lĩnh vực truyền thông, phân tích dữ liệu quản lý; còn giúp con người xử lý những dữ liệu sinh học và tạo ra những cây trồng hay vật nuôi ảo để mô phỏng sự phát triển của chúng.

3. Vai trò 

– Nền NNCNC không loại trừ vai trò cung cấp lương thực, thực phẩm cho con người, đảm bảo sự tồn tại và phát triển KT-XH của đất nước; cung cấp nguyên liệu cho ngành CN.

– Phát triển NNCNC còn có vai trò thu hút các nguồn lực của các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước để phát triển NN nói riêng và KT-XH nói chung. 

– NNCNC có vai trò trong việc tăng năng suất, chất lượng và giảm giá thành SP.

– NNCNC góp phần nâng cao trình độ lao động NN và chuyển dịch cơ cấu lao động; thúc đẩy nền kinh tế phát triển theo phương thức SXCN và thúc đẩy sự phát triển của các ngành khác như KH, CN, dịch vụ. 

– NNCNC có tác dụng trong việc sử dụng tiết kiệm đất và làm tăng thêm vai trò của đất.

– NNCNC còn có tác dụng thúc đẩy nhanh quá trình CN hóa và hiện đại hóa nền kinh tế đất nước.

4. Tiêu chí đánh giá nền nông nghiệp công nghệ cao

Căn cứ vào các tiêu chí đánh giá ứng dụng công nghệ cao trong NN của Ban Quản Lý khu NNCNC ở Thành phố Hồ Chí Minh, Luật Công Nghệ Cao Việt Nam và các tiêu chuẩn về vệ sinh an toàn thực phẩm có thể xây dựng các tiêu chí đánh giá nền NNCNC như sau:

4.1. Nhóm tiêu chí về khoa học và công nghệ 

KHCN được ứng dụng vào trong NN phải đảm bảo các yêu cầu sau: 

KHCN là có trình độ công nghệ tiên tiến tạo ra SP có năng suất tăng ít nhất 30% và chất lượng vượt trội so với công nghệ đang sử dụng.

Công nghệ phải liên tục NC đổi mới phù hợp với sự phát triển của KHCN, có thể ứng dụng và mở rộng trong những điều kiện sinh thái NN nhất định.

Công nghệ phải là tiên tiến tại thời điểm đầu tư. 

Công nghệ phải mang lại hiệu quả kinh tế cao, SP NNCNC phải đáp ứng được các yêu cầu về chất lượng của quốc gia và quốc tế như VietGAP, AseanGAP, EuropGAP, GlobalGAP,… 

Các KHCN ứng dụng trong NN tập trung vào các nhiệm vụ chủ yếu sau: 

Chọn tạo, nhân giống cây trồng vật nuôi cho năng suất, chất lượng cao để cho ngành trồng trọt và chăn nuôi đạt hiệu quả cao; 

Phòng, trừ dịch bệnh; 

Tạo ra các loại vật tư, máy móc, thiết bị sử dụng trong NN; 

Bảo quản, chế biến nông sản; 

Phát triển doanh nghiệp NNCNC;

– Phát triển dịch vụ công nghệ cao phục vụ NN. 

4.2. Nhóm các tiêu chí về kinh tế, xã hội và môi trường

Về kinh tế 

Nông sản của nền NNCNC phải có hiệu quả kinh tế cao hơn ít nhất 30% so với SP của nền NN truyền thống. Nếu là doanh nghiệp NNCNC phải tạo ra SP tốt, năng suất, hiệu quả kinh tế phải tăng ít nhất gấp 2 lần. Nếu là vùng NNCNC có năng suất và hiệu quả kinh tế tăng ít nhất 30%. 

Về xã hội 

Nông sản được SX ra từ nền NNCNC phải đáp ứng được yêu cầu và thị hiếu của người tiêu dùng về số lượng và chất lượng; việc ứng dụng công nghệ cao vào SXNN phải thay đổi được các tập quán vốn có như tập quán canh tác SX, tập quán mua bán hàng hóa nông sản, tập quán tiêu dùng;… hướng đến một nền SXNN hiện đại, theo phương thức SXCN tập trung; đảm bảo thu nhập và ổn định chất lượng cuộc sống người dân. 

NNCNC còn quan tâm đến công tác quản lý tổ chức, đây là một khâu hết sức quan trọng trong quá trình SX, đồng thời cũng là giải pháp chủ yếu để phát triển NN theo hướng ứng dụng công nghệ cao. Để đảm bảo về mặt tổ chức quản lý, Nhà nước phải ban hành các chính sách liên quan đến việc ứng dụng công nghệ cao trong NN như Luật CN cao, tiêu chuẩn chất lượng SP, quy định lĩnh vực hoạt động,… các quy định này làm cho hoạt động ứng dụng công nghệ cao đi vào “khuôn mẫu” hơn. Mặt khác, tổ chức quản lý còn tạo ra sự liên kết giữa các đối tượng tham gia vào SX; là điều kiện để phát huy hết tiềm năng vốn có của lực lượng lao động trong NN. 

Về mặt môi trường 

Nền NNCNC được đánh giá là xu hướng phát triển NN bền vững nên phải đảm bảo hạn chế thải ra các chất gây ô nhiễm môi trường, không vượt quá giới hạn cho phép; không làm tổn hại đến môi trường sinh thái nơi SX và các hệ sinh thái xung quanh. Ứng dụng công nghệ môi trường, công nghệ vi sinh, emzyme,… để tạo ra các loại phân bón, thuốc bảo vệ thực vật sinh học, xử lý các chất thải NN và sử dụng các chất không gây ô nhiễm môi trường.

4.3. Nhóm tiêu chí về sản phẩm nông nghiệp công nghệ cao

SP của nền NNCNC trước hết phải đáp ứng các yêu cầu SP công nghệ cao: Thứ nhất là có tỷ trọng giá trị gia tăng cao trong cơ cấu tổng giá trị SP. Thứ hai là có tính cạnh tranh cao và hiệu quả KT – XH lớn. Thứ ba là có khả năng xuất khẩu hoặc thay thế SP nhập khẩu. 

Thứ tư là góp phần nâng cao năng lực KHCN quốc gia. 

Ngoài ra, nông sản phải cơ bản đảm bảo các điều kiện sau đây: 

SP phải hấp dẫn về hình thức: tươi sạch, không lẫn tạp chất, bụi bẩn; phải có bao bì hợp vệ sinh; có nguồn gốc rõ ràng.

SP được thu hoạch đúng thời điểm, khi SP có chất lượng cao nhất; không có các triệu chứng sâu bệnh hay nhiễm các vi sinh vật gây bệnh.

SP phải đảm bảo an toàn về chất lượng, không chứa dư lượng chất hóa học vượt giới hạn cho phép.

Môi trường SX, thu hoạch, chế biến,… đảm bảo đúng quy định. 

Người lao động tham gia vào quá trình SX tạo ra SP cũng thực hiện đúng quy trình về vệ sinh an toàn thực phẩm và an toàn lao động trong NN.

Categories
Main

Một số vấn đề lý luận về giải quyết việc làm ở nông thôn

Nhanlamluanvan.com xin chia sẻ đến bạn một số vấn đề lý luận về giải quyết việc làm ở nông thôn.

Một số vấn đề lý luận về giải quyết việc làm ở nông thôn

>>> Xem thêm: Khái niệm và các yếu tố tác động đến giảm nghèo bền vững

1. Một số khái niệm cơ bản liên quan đến giải quyết việc làm

Dân số: 

Dân số là cơ sở để hình thành lực lượng lao động. Dân số biến động có tác động trực tiếp hoặc gián tiếp đến quy mô, cơ cấu cũng như sự phân bố theo không gian của dân số trong độ tuổi lao động. 

Theo nghĩa rộng: Dân số là tập hợp những người cư trú thường xuyên và sống trên một lãnh thổ nhất định (một quốc gia, một vùng lãnh thổ kinh tế, một đơn vị hành chính). 

Theo nghĩa hẹp: Dân số là một tập hợp người hạn định trong phạm vi nào đó (về lãnh thổ và xã hội có tính chất gắn liền với sự tái sản xuất liên tục của nó).

Lao động: 

Lực lượng lao động: Trên thế giới có nhiều quan niệm khác nhau về lực lượng lao động. 

Từ điển thuật ngữ trong lĩnh vực lao động của Liên Xô (cũ), (Matxcơva 1997, tiếng nga) lực lượng lao động là khái niệm định lượng của lao động.

Từ điển thuật ngữ Pháp (1997-1985) lực lượng lao động là số lượng và chất lượng những người lao động được quy đổi theo các tiêu chuẩn trung bình về khả năng lao động có thể sử dụng. 

Nhà kinh tế học DaVid Begg cho rằng: Lực lượng lao động có đăng ký bao gồm số người có công ăn việc làm cộng với số người thất nghiệp có đăng ký.

Theo tổ chức lao động của (ILO): Lực lượng lao động là một bộ phận dân số trong độ tuổi quy định, thực tế có tham gia lao động và những người không có việc làm đang tích cực tìm kiếm việc làm.

Theo thuật ngữ về lĩnh vực lao động của Bộ Lao động Thương binh và Xã hội thì lực lượng lao động là những người đủ 15 tuổi trở lên có việc làm và những người thất nghiệp. Lực lượng lao động đồng nghĩa với dân số hoạt động kinh tế; lực lượng lao động là bộ phận hoạt động của nguồn lao động [6, tr.11].

Từ những quan niệm của các nhà nghiên cứu trên thế giới và Việt Nam, chúng tôi đưa ra quan niệm về lực lượng lao động như sau: Lực lượng lao động bao gồm toàn bộ những người từ đủ 15 tuổi trở lên đang có việc làm hoặc không có việc làm, nhưng có nhu cầu làm việc và sẵn sàng làm việc. 

Lao động: Khái niệm về lao động có nhiều cách tiếp cận khác nhau nhưng suy đến cùng, lao động là hoạt động đặc thù của con người, là ranh giới để phân biệt con người với con vật. Bởi vì, khác với con vật, lao động của con người là hoạt động có mục đích, có ý thức tác động vào thế giới tự nhiên nhằm cải biến những vật thể của tự nhiên thành sản phẩm phục vụ cho nhu cầu đời sống của con người. Theo C.Mác: “Lao động trước hết là một quá trình diễn ra giữa con người và tự nhiên, một quá trình trong đó bằng hoạt động của chính mình, con người làm trung gian, điều tiết và kiểm tra sự trao đổi chất giữa họ và tự nhiên” [36, tr.230, 321].

Nguồn lao động và lực lượng lao động: 

Nguồn lao động và lực lượng lao động là những khái niệm có ý nghĩa quan trọng làm cơ sở cho việc tính toán cân đối lao động, việc làm trong xã hội. Theo giáo trình Kinh tế phát triển của trường Đại học Kinh tế quốc dân (2005) đưa ra khái niệm “Nguồn lao động là bộ phận dân số trong độ tuổi lao động theo quy định của pháp luật có khả năng lao động, có nguyện vọng tham gia lao động và những người ngoài độ tuổi lao động (trên độ tuổi lao động) đang làm việc trong các ngành kinh tế quốc dân” [5, tr.167]. 

Việc quy định độ tuổi lao động tuỳ mỗi nước có quy định khác nhau, thậm chí khác nhau ở các giai đoạn của mỗi nước. Điều đó tuỳ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế. ở nước ta, theo quy định của Bộ Luật lao động (2002) độ tuổi lao động đối với nam từ 15-60 tuổi và nữ là từ 15-55 tuổi. Nguồn lao động luôn được xem xét trên hai mặt, biểu hiện đó là số lượng và chất lượng. 

Số lượng lao động: Là toàn bộ những người trong độ tuổi lao động có khả năng lao động gồm: Dân số đủ 15 tuổi trở lên có việc làm và dân số trong độ tuổi lao động có khả năng lao động nhưng đang thất nghiệp, đang đi học, đang làm công việc nội trợ trong gia đình, không có nhu cầu việc làm và những người thuộc tình trạng khác (bao gồm cả những người nghỉ hưu trước tuổi quy định). 

Chất lượng lao động: Cơ bản đánh giá ở trình độ chuyên môn, tay nghề (trí lực) và sức khoẻ (thể lực) của người lao động.

2. Vai trò của giải quyết việc làm cho người lao động đối với sự phát triển kinh tế – xã hội ở nông thôn

Giải quyết việc làm cho người lao động có ý nghĩa quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế – xã hội. Bởi vì, con người là mục tiêu, động lực của sự phát triển kinh tế và là yếu tố tạo ra lợi ích kinh tế – xã hội. 

Lý luận và thực tiễn đã khẳng định: Bất kỳ một quá trình sản xuất nào cũng đều là sự kết hợp của ba yếu tố cơ bản đó là sức lao động, tư liệu lao động và đối tượng lao động. Đó là những yếu tố vật chất cho quá trình lao động diễn ra. Thực vậy, tư liệu sản xuất tự nó không thể tạo ra các sản phẩm phục vụ cho nhu cầu cần thiết của con người và xã hội, nếu như không có sự kết hợp của sức lao động. 

C.Mác và Ph.Ăngghen khi nghiên cứu vai trò của sản xuất xã hội và các yếu tố cơ bản của quá trình lao động sản xuất đã cho rằng: Sản xuất ra của cải vật chất là cơ sở của đời sống xã hội loài người và là hoạt động cơ bản nhất trong tất cả các hoạt động của con người. 

Ngày nay, con người với trình độ khoa học – công nghệ cao là một thành tố quan trọng của lực lượng sản xuất cũng như trong công cuộc xây dựng đổi mới đất nước. Các chính sách của Đảng và Nhà nước ta là chăm sóc, bồi dưỡng và phát huy nhân tố con người với tư cách vừa là động lực, vừa là mục tiêu chung của cách mạng. Đảng ta coi việc phát huy nhân tố con người như là một nguồn lực quan trọng nhất của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Đây chính là nguồn tài nguyên vô giá, nguồn nội lực dồi dào cần được chăm sóc để phát triển. Đầu tư vào con người và phát huy nguồn lực con người là yếu tố cơ bản để phát triển nhanh và bền vững. 

Việc làm đối với người lao động là nhu cầu để tồn tại và phát triển, là yếu tố khách quan của người lao động. Con người tồn tại phải được tiêu dùng một lượng tư liệu sinh hoạt nhất định như: Thức ăn, đồ mặc, nhà ở, học tập, phương tiện đi lại… Để có những thứ đó con người phải sản xuất và tái sản xuất với quy mô ngày càng mở rộng. Như vậy, để tồn tại và phát triển con người bằng sức lao động của mình, là yếu tố của quá trình sản xuất, là lực lượng sản xuất cơ bản nhất tạo ra giá trị hàng hoá dịch vụ. 

Sự phát triển kinh tế – xã hội, suy cho cùng, là nhằm mục tiêu phục vụ con người làm cho cuộc sống mỗi người ngày càng tốt đẹp hơn, xã hội ngày càng văn minh hơn. 

Từ lý luận và thực tiễn đã chứng minh có ba điều kiện cơ bản nhất để phát triển con người là: phải đảm bảo an toàn lương thực, an toàn việc làm và an toàn môi trường. 

Giải quyết việc làm là cơ sở để phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội góp phần thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Vì vậy, giải quyết việc làm không chỉ là trách nhiệm của cơ quan trực tiếp quan hệ đến lao động, việc làm mà còn là trách nhiệm của tất cả các cấp, các ngành, các tổ chức xã hội, các doanh nghiệp và cả bản thân người lao động. Điều 13, Bộ Luật lao động Nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã nêu rõ: “Giải quyết việc làm, đảm bảo cho mọi người có khả năng lao động đều có việc làm là trách nhiệm của nhà nước, của các doanh nghiệp và của toàn xã hội” [43, tr.42].

Nước ta đến nay vẫn còn 62 triệu người sống ở nông thôn, trong đó độ

tuổi lao động là 43,26 triệu người chiếm 75,18% lực lượng lao động, nguồn thu nhập chính là nông nghiệp. Đặc điểm của lao động nông thôn là tăng nhanh, ít qua đào tạo, đa dạng về lứa tuổi, sử dụng theo thời vụ, có nhiều cơ hội tìm việc làm nhưng giá tiền công lại rẻ, di chuyển lao động và một bộ phận lao động tự do. 

Sau 20 năm thực hiện đường lối đổi mới, sản xuất nông nghiệp đã phát triển tương đối toàn diện theo hướng sản xuất hàng hoá và đạt được tốc độ tăng trưởng cao. Trong quá trình công nghiệp hoá và đô thị hoá, nhiều vùng nông thôn biến thành đô thị, nhiều diện tích đất nông nghiệp biến thành các khu công nghiệp, đường giao thông, trung tâm thương mại và đất khu dân cư. Tính chung, trong 10 năm 1995-2005 trung bình mỗi năm cả nước mất khoảng 50 nghìn ha đất nông nghiệp cho các nhu cầu phi nông nghiệp. Trong khi đó lao động nông nghiệp đã dư thừa trên 23% và số lượng cứ tăng dần với tốc độ 2%/năm. Năm 2001, lao động nông thôn, nông nghiệp có 24,72 triệu người, chiếm 80% lao động nông thôn; năm 2005 tăng lên gần 27 triệu người. Như vậy, trung bình mỗi năm lao động nông nghiệp tăng thêm khoảng 45 vạn người. Trong khi đó diện tích đất nông nghiệp lại giảm xuống kéo theo giảm việc làm cho nông dân. Ruộng đất ít, lao động thừa, việc làm thiếu và thu nhập thấp, đời sống nông dân còn nghèo, khoảng cách chênh lệch nông thôn và thành thị có xu hướng gia tăng. Vì vậy, vấn đề đặt ra hiện nay là làm thế nào để tạo việc làm mới cho lao động nông thôn nói chung, nông dân nói riêng là mối quan tâm hàng đầu trong chiến lược phát triển kinh tế – xã hội.

3. Các nhân tố ảnh hưởng đến giải quyết việc làm cho người lao động ở nông thôn

Nhân tố về điều kiện tự nhiên, môi trường sinh thái:

Nếu điều kiện tự nhiên, môi trường sinh thái thuận lợi, sẽ có nhiều dự án, nhiều chương trình kinh tế – xã hội đầu tư và như vậy nơi đây sẽ có điều kiện hơn trong giải quyết việc làm cho người lao động. Ngược lại, không thể có sự thuận lợi trong giải quyết việc làm tại chỗ đối với người lao động sống ở những nơi điều kiện tự nhiên bất lợi (sa mạc, vùng băng giá, vùng núi cao, hải đảo…). 

Giải quyết việc làm vừa là nhiệm vụ bức xúc, vừa là chiến lược lâu dài. Vấn đề đặt ra là phải bảo đảm cho môi trường nhân tạo hoà hợp với môi trường thiên nhiên, coi đây là một mục tiêu chính quan trọng trong giải quyết việc làm. Đồng thời, phải có giải pháp khắc phục tác động với thiên tai, sự biến động khí hậu bất lợi và hậu quả chiến tranh còn lại đối với môi trường sinh thái nước ta. Vấn đề này cần được xuyên suốt trong toàn bộ chiến lược về việc làm thể hiện trong từng vùng, từng ngành, từng lĩnh vực, từng cộng đồng dân cư để con người thực sự làm chủ được mô trường sống của mình hoặc hạn chế được đến mức thấp nhất những tác động xấu do biến động môi trường. Như vậy, bảo vệ và cải thiện môi trường không chỉ là mục tiêu trong giải quyết việc làm mà còn là điều kiện để phát triển bền vững. 

Nhân tố về dân số:

Dân số, lao động, việc làm và nguồn nhân lực là yếu tố quyết định đến sự phát triển kinh tế – xã hội của đất nước. Tăng trưởng dân số với tốc độ và quy mô hợp lý là nguồn cung cấp nguồn nhân lực vô giá. Tuy nhiên, nếu dân số phát triển quá nhanh, quy mô phát triển lớn vượt khả năng đáp ứng và yêu cầu của xã hội, thì tăng trưởng dân số không phải là yếu tố tích cực mà lại là gánh nặng cho nền kinh tế. 

Mức sinh, mức chết, cơ cấu giới, tuổi của dân số đều ảnh hưởng đến quy mô của lực lượng lao động. Nếu mức sinh cao dẫn đến gia tăng nhanh chóng số lượng người trong độ tuổi lao động tương lai.

Ngoài ra, vấn đề di dân và các dòng di dân, đặc biệt là di dân từ nông thôn ra đô thị gây ra các áp lực kinh tế – xã hội và chính trị còn nguy hiểm hơn so với tỷ lệ gia tăng dân số nhanh chóng. Quá trình đô thị hoá gây ra hậu quả trực tiếp đến vấn đề việc làm, để có thể thu hút hết số lao động này, cần phải nhanh chóng tạo ra một số lượng lớn chỗ làm việc. Hơn nữa chất lượng của số lao động này về học vấn, đào tạo, trình độ nghề nghiệp không đáp ứng được với yêu cầu công việc trong khu đô thị. Do đó tỷ lệ thất nghiệp, thiếu việc làm sẽ cao lên.

Trong kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội, việc khống chế mức tăng dân số được gắn với vấn đề giảm áp lực đối với việc làm. Vấn đề dân số thường được gắn với vấn đề sử dụng nguồn lao động và giải quyết việc làm. Nhìn chung, giảm tỷ lệ gia tăng dân số cũng có nghĩa là có sự đầu tư cao hơn vào các lĩnh vực giáo dục, sức khoẻ và các dịch vụ xã hội. 

ở nước ta, nhân tố dân số đã được Đảng và Nhà nước ta thể hiện trong kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội từng thời kỳ. Đặt con người vào vị trí trung tâm trong chiến lược phát triển xã hội, con người vừa là mục tiêu, và động lực cho sự phát triển. Tuy nhiên, khi nguồn lực này tăng quá nhanh lại chưa sử dụng hết sẽ là lực cản, gây sức ép về đời sống và việc làm. 

Nhân tố về chính sách vĩ mô: 

Để giải quyết việc làm cho người lao động, vấn đề quan trọng nhất là nhà nước phải tạo các điều kiện và môi trường thuận lợi để người lao động tự tạo việc làm trong cơ chế thị trường thông qua những chính sách cụ thể. Có thể có nhiều chính sách tác động trực tiếp hoặc gián tiếp đến việc làm, hợp thành một hệ thống chính sách hoàn chỉnh có quan hệ qua lại, bổ xung cho nhau hướng vào phát triển cả cung và cầu về lao động, đồng thời làm cho cung và cầu phù hợp với nhau. Thực chất là tạo ra sự phù hợp giữa cơ cấu kinh tế và cơ cấu lao động.  

Nhóm chính sách khuyến khích phát triển những lĩnh vực, hình thức và vùng có khả năng thu hút được nhiều lao động trong cơ chế thị trường như: Chính sách phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ, chính sách phát triển khu vực phi kết cấu, chính sách di dân và phát triển vùng kinh tế mới, chính sách đưa lao động đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài, chính sách khôi phục và phát triển làng nghề…

Nhóm chính sách việc làm cho các đối tượng là người có công và chính sách xã hội đặc biệt khác như: Thương binh, bệnh binh, gia đình liệt sĩ, người tàn tật, đối tượng xã hội…. 

Chính sách việc làm thuộc hệ thống chính sách xã hội, nhưng phương thức và biện pháp giải quyết việc làm mang nội dung kinh tế đồng thời liên quan đến những vấn đề thuộc về tổ chức sản xuất kinh doanh như: Tạo môi trường pháp lý, vốn, lựa chọn và chuyển giao công nghệ, cơ sở hạ tầng, thị trường tiêu thụ sản phẩm… 

Nhân tố liên quan đến giáo dục – đào tạo và khoa học – công nghệ: 

Về giáo dục – đào tạo: 

Tiềm năng kinh tế của một đất nước phụ thuộc vào trình độ khoa học – công nghệ của đất nước đó. Trình độ khoa học – công nghệ lại phụ thuộc vào các điều kiện giáo dục. Giáo dục – đào tạo giúp cho người lao động có đủ tri thức, năng lực, sẵn sàng đáp ứng mọi yêu cầu của công việc. Người lao động qua quá trình đào tạo sẽ có nhiều cơ hội để thực hiện các công việc mà xã hội phân công sắp xếp. 

Giáo dục và đào tạo là động lực thúc đẩy, là điều kiện cơ bản để đảm bảo việc thực hiện những mục tiêu kinh tế – xã hội. Giáo dục và đào tạo nhằm vào định hướng phát triển, trước hết cung cấp cho xã hội một lực lượng lao động mới đủ về số lượng, nâng cao chất lượng và phát huy hiệu quả để đảm bảo việc thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. 

Về Khoa học – công nghệ:

Khoa học – công nghệ đã làm biến đổi cơ cấu đội ngũ lao động. Bên cạnh những ngành nghề truyền thống đã xuất hiện những ngành nghề mới, cùng với nó là xu hướng tri thức hoá công nhân, chuyên môn hoá lao động, giảm bớt lao động chân tay nặng nhọc.

Trong nền kinh tế phát triển, người lao động muốn thích ứng với các công việc xã hội yêu cầu. Trước hết, họ phải là những người được trang bị nhất định về khoa học – công nghệ. Tuy nhiên, trong thực tế ở những nước sản xuất kém phát triển thường có mâu thuẫn: Nếu công nghệ sản xuất tiên tiến với các dây chuyền sản xuất tự động hoá, chuyên môn hoá cao thì trình độ người lao động chưa bắt kịp dễ dẫn đến tình trạng một bộ phận người lao động bị gạt ra khỏi quá trình sản xuất kinh doanh. Vì thế, bên cạnh công việc đào tạo nâng cao trình độ lành nghề cho người lao động, vấn đề lựa chọn áp dụng mức độ công nghệ nào trong dây chuyền kinh doanh phải tính toán thận trọng. Bởi vì, chính sách khoa học – công nghệ có tác động mạnh mẽ đến vấn đề giải quyết việc làm cho người lao động. 

Nhân tố toàn cầu hoá, hội nhập kinh tế quốc tế: 

Toàn cầu hoá đặt ra những thách thức và những nguy cơ lớn đối với tình trạng việc làm ở tất cả các nước trên thế giới. Số lượng việc làm ở khu vực này có thể tăng lên nhưng lại giảm đi ở khu vực khác, một số loại việc làm sẽ mất đi nhưng một số loại việc làm mới xuất hiện. 

Những biến đổi về quy mô và cơ cấu việc làm, sẽ gây không ít khó khăn và những chi phí lớn của cá nhân gia đình và toàn xã hội. Do mất việc làm người lao động phải tìm chỗ làm việc mới, phải học tập những kiến thức và kỹ năng mới, phải di chuyển từ nơi này đến nơi khác để tìm việc làm, phải thích nghi với những điều kiện sống luôn thay đổi. Điều đó, đã gây gánh nặng về đào tạo lại, trợ cấp xã hội, trợ cấp thất nghiệp do chính phủ phải gánh chịu. 

Trong điều kiện thế giới ngày nay, để khai thác và sử dụng tốt các yếu tố bên ngoài, đồng thời phải phát huy tối đa nội lực, kết hợp nội lực với ngoại lực thành sức mạnh tổng hợp trong giải quyết việc làm một cách năng động, hiệu quả, bền vững, tránh được những rủi ro. Cần có những nghiên cứu mang tính hệ thống tình hình thế giới, khu vực và các mối quan hệ giữa các điều kiện bên trong và bên ngoài, nhận thức và vận dụng đúng đắn quan hệ đó khi xây dựng chiến lược việc làm.

Categories
Main

Những vấn đề chung về tham nhũng và phòng chống tham nhũng

Trong bài viết này, nhanlamluanvan.com xin chia sẻ đến bạn những vấn đề chung về tham nhũng và phòng chống tham nhũng.

Những vấn đề chung về tham nhũng và phòng chống tham nhũng

>>> Xem thêm: Một số vấn đề lý luận về giải quyết việc làm ở nông thôn

1. Khái niệm và đặc trưng của tham nhũng

Tham nhũng là một hiện tượng xã hội mang tính lịch sử, luôn gắn bó chặt chẽ hữu cơ với sự tồn tại và phát triển của bộ máy nhà nước. Tham nhũng không chỉ là vấn đề của một quốc gia mà diễn ra ở tất cả các quốc gia, không phân biệt chế độ chính trị, không kể quốc gia đó giàu hay nghèo, đang trình độ phát triển kinh tế như thế nào, tham nhũng diễn ra ở mọi lĩnh vực của đời sống kinh tế – xã hội, nó tồn tại và phát triển thường xuyên hàng ngày, hàng giờ, nó len lỏi vào mọi mặt của đời sống xã hội và đụng chạm hầu hết đến lợi ích của người dân. 

Ở nước ta hiện nay thuật ngữ tham nhũng được sử dụng phổ biến trong đời sống hàng ngày, nhưng vẫn chưa có sự thống nhất về quan niệm. Theo Đại Từ điển Tiếng việt giải thích, “Tham nhũng là hành động lợi dụng quyền hành để tham ô và hạch sách, nhũng nhiễu dân” [46; tr.1523]. Theo quan niệm này tham nhũng gồm hai hành vi phối hợp với nhau: nhũng nhiễu của người có quyền hành và thu lợi bất chính từ lạm dụng quyền hành đó. 

Xét theo quy định của pháp luật, Khoản 2, Điều 1 của Luật Phòng, chống tham nhũng được Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XI, kỳ họp thứ 8 thông qua ngày 29 tháng 11 năm 2005 (sửa đổi, bổ sung năm 2007, năm 2012) quy định: “Tham nhũng là hành vi của người có chức vụ, quyền hạn đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn đó vì mục đích vụ lợi” [36; Điều 1]. Người có chức vụ, quyền hạn chỉ giới hạn ở những người trong khu vực nhà nước (các cơ quan, tổ chức, đơn vị trong hệ thống chính trị có sử dụng ngân sách, vốn, tài sản của Nhà nước). 

Theo quy định của pháp luật Việt Nam, tham nhũng có những đặc trưng cơ bản như sau: 

Thứ nhất, chủ thể tham nhũng là người có chức vụ, quyền hạn. 

Đặc điểm của tham nhũng là chủ thể thực hiện hành vi phải là người có chức vụ, quyền hạn. Người có chức vụ, quyền hạn bao gồm: “Cán bộ, công chức, viên chức; sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân; sĩ quan, hạ sĩ quan nghiệp vụ, sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên môn – kỹ thuật trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân; cán bộ lãnh đạo, quản lý trong doanh nghiệp của Nhà nước; cán bộ lãnh đạo, quản lý là người đại diện phần vốn góp của Nhà nước tại doanh nghiệp; người được giao thực hiện nhiệm vụ, công vụ có quyền hạn trong khi thực hiện nhiệm vụ, công vụ đó” (Điều 3, Luật PCTN).

Thứ hai, chủ thể tham nhũng lợi dụng chức vụ, quyền hạn được giao. Lợi dụng chức vụ, quyền hạn để vụ lợi là đặc trưng thứ hai của tham nhũng. Khi thực hiện hành vi tham nhũng, kẻ tham nhũng phải sử dụng “chức vụ, quyền hạn của mình” như một phương tiện để mang lại lợi ích cho mình, cho gia đình mình hoặc cho người khác. Đây là yếu tố cơ bản để xác định hành vi tham nhũng. Một người có chức vụ, quyền hạn nhưng không lợi dụng chức vụ, quyền hạn đó thì không thể có hành vi tham nhũng. Tuy nhiên, không phải mọi hành vi của người có chức vụ, quyền hạn đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn đó đều được coi là hành vi tham nhũng. Ở đây có sự giao thoa giữa hành vi này với các hành vi tội phạm khác, do vậy cần lưu ý khi phân biệt hành vi tham nhũng với các hành vi vi phạm pháp luật khác. 

Thứ ba, mục đích của hành vi tham nhũng là vụ lợi. 

Hành vi tham nhũng là hành vi cố ý. Mục đích của hành vi tham nhũng là vụ lợi. Nếu chủ thể thực hiện hành vi không cố ý thì hành vi đó không là hành vi tham nhũng. Vụ lợi ở đây được hiểu là lợi ích vật chất hoặc lợi ích tinh thần mà người có chức vụ, quyền hạn đã đạt được hoặc có thể đạt được thông qua hành vi tham nhũng. Như vậy, khi xử lý về hành vi tham nhũng, không bắt buộc chủ thể tham nhũng phải đạt được lợi ích.

2. Khái niệm phòng chống tham nhũng

PCTN là tổng thể các biện pháp mà một nhà nước áp dụng để phòng ngừa (phòng), phát hiện, ngăn chặn và xử lý (chống) tham nhũng. Những biện pháp đó có thể là lập pháp (ban hành các văn bản pháp luật để điều chỉnh những hành vi tham nhũng), hành pháp (thực hiện các quy định pháp luật về PCTN), tư pháp (xử lý những hành vi tham nhũng theo luật định), hoặc những biện pháp giáo dục, tuyên truyền để nâng cao nhận thức, ý thức trách nhiệm của những chủ thể có liên quan về vấn đề này. 

Như vậy, PCTN bao gồm hai lĩnh vực hoạt động:

Một là, phòng ngừa tham nhũng là hoạt động của các cơ quan, tổ chức, đơn vị và cá nhân công dân nhằm làm bớt đi các điều kiện tham nhũng, bao gồm các hoạt động như: Ban hành các văn bản để điều chỉnh hành vi tham nhũng; tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức; công khai minh bạch trong hoạt động của các cơ quan; minh bạch tài sản thu nhận; xây dựng và thực hiện chế độ, định mức, tiêu chuẩn, cải cách hành chính… 

Hai là, chống tham nhũng là hoạt động cơ quan, tổ chức, đơn vị và cá nhân công dân trong phát hiện tham nhũng và xử lý tham nhũng, bao gồm các hoạt động như: khiếu nại, tố cáo và giải quyết khiếu nại, tố cáo; giám sát, kiểm tra, thanh tra; điều tra, truy tố, xét xử…

3. Pháp luật về phòng chống tham nhũng

3.1. Khái niệm

Pháp luật về phòng, chống tham nhũng là hệ thống các quy phạm pháp luật do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành để điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong lĩnh vực phòng, chống tham nhũng. 

Từ khái niệm pháp luật về PCTN, có thể xác định đối tượng điều chỉnh và phương pháp điều chỉnh, nguồn pháp luật PCTN như sau: 

Đối tượng điều chỉnh của pháp luật nói chung, chính là các quan hệ xã hội. Tuy nhiên, pháp luật không điều chỉnh tất cả các quan hệ xã hội cụ thể mà chỉ điều chỉnh các quan hệ xã hội quan trọng nhất liên quan trực tiếp đến lợi ích của nhà nước, xã hội và cá nhân con người.

Mỗi một ngành luật có đối tượng điều chỉnh và phương pháp điều chỉnh riêng. Xác định đối tượng điều chỉnh của pháp luật là xác định ranh giới của việc sử dụng pháp luật vào việc điều chỉnh các quan hệ xã hội, xác định ranh giới của sự can thiệp công khai của nhà nước thông qua pháp luật vào sự phát triển của các quan hệ xã hội. Luật Hành chính điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong hoạt động chấp hành và điều hành của các cơ quan hành chính nhà nước; trong tổ chức và hoạt động nội bộ của các cơ quan quyền lực nhà nước, tòa án, viện kiểm sát; trong hoạt của các tổ chức xã hội được nhà nước trao quyền hành pháp. Pháp luật về PCTN không phải là một ngành luật độc lập mà là một chế định thuộc ngành luật hành chính. Vì vậy, pháp luật về PCTN điều chỉnh một nhóm các quan hệ xã hội phát sinh giữa các chủ thể trong hoạt động phòng ngừa, phát hiện và xử lí tham nhũng. Đồng thời cũng xuất phát từ phương pháp điều chỉnh chung của Luật Hành chính, pháp luật về PCTN sử dụng phương pháp điều chỉnh là mệnh lệnh – phục tùng.Tính mệnh lệnh được hình thành từ quan hệ “quyền lực – phục tùng” giữa một bên nhân danh nhà nước ra những mệnh lệnh bắt buộc bên kia (cá nhân, cơ quan, tổ chức phải phục tùng các mệnh lệnh đó). 

Nhìn chung nguồn của pháp luật về PCTN rất đa dạng. Các quy phạm pháp luật PCTN được chứa đựng trong nhiều văn bản pháp luật như: Luật PCTN; Bộ Luật Hình sự; Luật Khiếu nại; Luật Tố cáo; Luật Giám sát; Luật Thanh tra; Luật phòng chống rửa tiền; Luật Cán bộ, công chức; Luật Thực hành tiết kiệm, chống lãng phí… và cả trong các Điều ước Quốc tế mà Việt Nam là thành viên. Được ban hành lần đầu năm 2005 và sửa đổi, bổ sung vào các năm 2007 và 2012, Luật PCTN được coi là văn bản xương sống trong khuôn khổ pháp luật Việt Nam về PCTN.

3.2. Nội dung điều chỉnh của pháp luật về phòng chống tham nhũng

Thứ nhất, pháp luật về phòng ngừa tham nhũng 

Phòng ngừa tham nhũng là một trong những nội dung lớn của Luật phòng, chống tham nhũng. Kinh nghiệm chống tham nhũng của các nước trên thế giới cho thấy, công tác phòng ngừa đóng vai trò rất quan trọng. Công ước của Liên hợp quốc về chống tham nhũng khuyến cáo các quốc gia thành viên lưu ý trong việc xây dựng và duy trì một chiến lược phòng ngừa tham nhũng liên tục, toàn diện và có hiệu quả. Pháp luật Việt Nam hiện hành quy định khá đầy đủ các biện pháp phòng ngừa đang được nhiều nước trên thế giới áp dụng hiện nay. Chính vì vậy, trong Luật PCTN năm 2005 (sửa đổi, bổ sung năm 2007, năm 2012), số lượng điều khoản và nội dung về phòng ngừa tham nhũng chiếm tỉ lệ rất lớn, phần lớn các quy định của pháp luật về chống tham nhũng nằm trong các biện pháp phòng ngừa tham nhũng.

Các quy định về biện pháp phòng ngừa tham nhũng được quy định tại chương này gồm có 6 mục với tổng số 48 điều quy định những nội dung cụ thể như sau:

Một là, công khai minh bạch trong hoạt động của các cơ quan, tổ chức, đơn vị.

Hai là, xây dựng và thực hiện các chế độ, định mức, tiêu chuẩn.

Ba là, quy tắc ứng xử, quy tắc đạo đức nghề nghiệp, việc chuyển đổi vị trí công tác của cán bộ, công chức, viên chức.

Bốn là, minh bạch tài sản, thu nhập của CBCCVC.

Năm là, chế độ trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị khi để xảy ra tham nhũng.

Sáu là, cải cách hành chính, đổi mới công nghệ quản lý và phương thức thanh toán.

Thứ hai, pháp luật về phát hiện tham nhũng. 

Phát hiện tham nhũng là việc tìm ra vụ việc tham nhũng và có biện pháp kịp thời để hạn chế thiệt hại xảy ra, đồng thời xác định mức độ trách nhiệm của người có hành vi vi phạm, có hình thức xử lý thích đáng và nghiêm minh. Việc phát hiện tham nhũng đòi hỏi sự nỗ lực của mọi cơ quan, tổ chức, đặc biệt là các cơ quan có chức năng thanh tra, điều tra, giám sát, kiểm sát cũng như sự tham gia tích cực của công dân. Pháp luật về PCTN quy định: việc phát hiện tham nhũng thông qua ba hoạt động chủ yếu sau:

Một là, thông qua công tác kiểm tra của cơ quan, tổ chức, đơn vị.

Hai là, thông qua hoạt động thanh tra, kiểm toán, điều tra, kiểm sát, xét xử, giám sát.

Ba là, thông qua tố cáo và giải quyết tố cáo về hành vi tham nhũng.

Thứ ba, pháp luật về xử lý tham nhũng và các hành vi vi phạm pháp luật khác. 

Một là, xử lý kỷ luật và xử lý hình sự.

Hai là, quy định về xử lý tài sản tham nhũng.

Categories
Main

Khái niệm và các yếu tố tác động đến giảm nghèo bền vững

Nhanlamluanvan.com xin chia sẻ đến bạn khái niệm và các yếu tố tác động đến giảm nghèo bền vững.

Khái niệm và các yếu tố tác động đến giảm nghèo bền vững

>>> Xem thêm: Một số vấn đề lý luận về giải quyết việc làm ở nông thôn

1. Khái niệm nghèo, giảm nghèo và giảm nghèo bền vững

1.1. Khái niệm nghèo

Có nhiều quan niệm, khái niệm về nghèo – theo Waltts (1968), nghèo được hiểu là thiếu khả năng thỏa mãn đối với các loại hàng hóa thông thường; theo Sen (1987), nghèo là thiếu khả năng hoạt động và kém phát triển, nghèo đói là vấn đề đa chiều; theo Ủy ban Kinh tế – Xã hội khu vực Châu á và Thái bình dương (ESCAP), nghèo là tình trạng một bộ phận dân cư không có khả năng thỏa mãn những nhu cầu cơ bản của con người mà những nhu cầu ấy phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh  tế xã hội, phong tục tập quán của từng vùng và những phong tục ấy được xã hội thừa nhận; theo Ngân hàng phát triển châu á (ADB, 1999), nghèo là tình trạng thiếu những tài sản cơ bản và cơ hội mà mỗi người có quyền được hưởng; theo Ngân hàng thế giới (WB, 2000), nghèo là mất đi tình trạng no ấm; theo Abapia Sen, nghèo là một mức thu nhập thấp, là sự thiếu cơ hội lựa chọn tham gia vào quá trình phát triển của cộng đồng; theo Giáo trình Kinh tế Nguồn nhân lực [39, tr.457-458] [38] nghèo là tình trạng một bộ phận dân cư chỉ có thể thỏa mãn một phần nhu cầu tối thiểu cơ bản của cuộc sống và mức sống thấp hơn mức sống  trung bình của cộng đồng. 

Trong nhiều tài liệu, cụm từ “nghèo khổ“ hay “nghèo đói” cũng hay được sử dụng với nghĩa là nghèo. Mặc dù “đói“ là tình trạng không đủ nhu cầu về lương thực và thực phẩm hay còn gọi là “thiếu đói”7 hay là tình trạng một bộ phận dân cư có mức sống tối thiểu và thu nhập không đủ đảm bảo nhu cầu vật chất để duy trì cuộc sống; hay là tình trạng một người được cung cấp mức tiêu dùng năng lượng thấp hơn mức tối thiểu [39, tr.457]. 

Nghèo có thể được xem xét với nghĩa là nghèo tuyệt đối hay tương đối. Nghèo tuyệt đối là tình trạng một bộ phận dân cư không có khả năng thỏa mãn những nhu cầu cơ bản rất tối thiểu để duy trì cuộc sống như ăn, mặc, ở, nước sạch, vệ sinh môi trường và chăm sóc y tế, giáo dục, đi lại [39, tr.457]. Nghèo tương đối, hay nghèo so sánh là sự nghèo khổ thể hiện sự bất bình đẳng trong quan hệ phân phối của cải xã hội giữa các nhóm xã hội, các tầng lớp dân cư và vùng địa lý [39, tr.457].

Nghèo cũng có thể xem xét đơn chiều, như thu nhập, chi tiêu hay đa chiều. Nghèo đa chiều là nghèo được xem xét đồng thời thông qua nhiều khía cạnh không chỉ là thu nhập bao gồm các khía cạnh liên quan đến dinh dưỡng, sức khỏe, giáo dục, khả năng dễ bị tổn thương, không có quyền phát ngôn và không có quyền lực (WB, 2000); khả năng để đáp ứng các tiêu chuẩn đầy đủ các phúc lợi, về mức độ an ninh kinh tế, xã hội và con người, quyền dân sự và chính trị [58, tr.4]; sức khỏe, giáo dục và thu nhập ở cấp hộ gia đình [41]; giáo dục, dinh dưỡng, y tế, nhà ở, nước và vệ sinh, lao động trẻ em, giải trí, tham gia và bảo trợ xã hội [44]. 

Luận án sử dụng khái niệm nghèo trong Giáo trình Kinh tế Nguồn nhân lực của Trường Đại học Kinh tế quốc dân – “là tình trạng một bộ phận dân cư chỉ có thể thỏa mãn một phần nhu cầu tối thiểu cơ bản của cuộc sống và mức sống thấp hơn mức sống trung bình của cộng đồng xét trên mọi phương diện” [39, tr.457] làm khái niệm cơ sở của luận án. Tuy nhiên, khái niệm này đồng thời vừa phản ảnh nghèo tuyết đối: “chỉ có thể thỏa mãn một phần nhu cầu tối thiểu cơ bản của cuộc sống”, vừa phản ánh nghèo tương đối: “mức sống thấp hơn mức sống trung bình của cộng đồng”. Do vậy, luận án chỉ tập trung vào khía cạnh tuyệt đối của nghèo đói là “chỉ có thể thỏa mãn một phần cơ bản của cuộc sống” để vừa đảm bảo được nội hàm “nhu cầu tối thiểu cơ bản”, vừa thống nhất với khái niệm nghèo của ESCAP mà khái niệm này của ESCAP đã được sử dụng làm cơ sở tiếp cận và xây dựng chuẩn nghèo ở Việt Nam trong nhiều năm qua. Mặt khác, “nhu cầu tối thiểu” thực chất là những nhu cầu cơ bản nhất, không thể thiếu, ví dụ như ăn, mặc, ở. 

Để đo lường nghèo hay xác định được người nghèo, về lý thuyết, phải đo lường được tất cả các khía cạnh thiếu hụt hay sự không thỏa mãn tất cả các nhu cầu cơ bản. Ví dụ, thiếu hụt về nhu cầu ăn (dinh dưỡng, lương thực, thực phẩm,…), nhu cầu về mặc (đẹp, ấm,…), nhu cầu về ở (diện tích, chất lượng nhà ở),… 

Trên thực tế, do có sự tương quan khá chặt chẽ giữa mức thu nhập với mức độ tiêu dùng hay thỏa mãn những nhu cầu của con người; với xu hướng chung là mức thu nhập càng cao thì mức tiêu dùng càng cao và mức tiêu dùng này được hiểu là mức độ thỏa mãn các nhu cầu cơ bản càng cao; Chính vì vậy, chuẩn nghèo (tuyệt đối) thường được xác định trên cơ sở một mức thu nhập hay chi tiêu, mà với mức thu nhập hay chi tiêu đó có thể đảm bảo thỏa mãn được những nhu cầu cơ bản phù hợp trình độ phát triển kinh tế xã hội. Đây là cách xác định chuẩn nghèo phổ biến ở các nước trên thế giới trong những năm gần đây. Năm 1995, Hội nghị thượng đỉnh thế giới về phát triển xã hội tổ chức tại Copenhagen, Đan Mạch đã đưa ra một định nghĩa rất cụ thể về người nghèo theo nghĩa tuyệt đối: “người nghèo là tất cả những ai mà thu nhập thấp hơn dưới 1 đô la (USD PPP) mỗi ngày cho mỗi người, số tiền được coi như đủ để mua những sản phẩm thiết yếu để tồn tại”8. Chuẩn nghèo còn có thể được gọi là “đường nghèo”, “ngưỡng nghèo”, “tiêu chuẩn nghèo”. 

Tất cả các chuẩn nghèo ở Việt Nam là chuẩn nghèo tuyệt đối. Chuẩn nghèo được ban hành bởi các cơ quan nhà nước có thẩm quyền. 

Chuẩn nghèo quốc gia là chuẩn nghèo do Chính phủ ban hành, quy định và áp dụng thống nhất trên phạm vi toàn quốc. Chuẩn nghèo này được dùng để xác định đối tượng nghèo để thực hiện các chính sách, chương trình giảm nghèo của Chính phủ.

Chuẩn nghèo lương thực thực phẩm của TCTK được xác định bằng mức chi tiêu bình quân đầu người 1 năm tính theo thời giá đủ chi một lượng lương thực thực phẩm (LTTP) thiết yếu bảo đảm khẩu phần ăn duy trì tối thiểu lượng calo tiêu dùng một người trong một ngày là 2100 Kcal. Chuẩn nghèo này được dùng chủ yếu trong khảo sát mức sống dân cư Việt Nam.

Chuẩn nghèo chung của TCTK được xác định bằng mức chi tiêu bình quân đầu người 1 năm tính theo thời giá đủ chi một lượng LTTP thiết yếu bảo đảm khẩu phần ăn duy trì tối thiểu lượng calo tiêu dùng một người trong một ngày là 2100 Kcal cộng thêm một lượng tiêu dùng tối thiểu chi các mặt hàng phi LTTP như nhà ở, đồ dùng gia đình, học tập, y tế, văn hóa, giải trí, đi lại, thông tin liên lạc,.. Chuẩn nghèo này được dùng chủ yếu trong khảo sát mức sống dân cư Việt Nam.

Như vậy, ở Việt Nam cũng như nhiều nước khác, người nghèo, hộ nghèo  trên thực tế được xác định là cá nhân, hộ gia đình có mức thu nhập (bình quân đầu người) thấp hơn hoặc bằng chuẩn nghèo.

1.2. Khái niệm giảm nghèo

Trên  cơ sở  khái niệm  nghèo, khái niệm giảm nghèo được hiểu là giảm tình trạng dân cư chỉ có thể thỏa mãn một phần nhu cầu cơ bản của cuộc sống. Ở cấp độ cộng đồng, giảm nghèo này được hiểu là giảm số lượng hay tỷ lệ người hay hộ không thỏa mãn những nhu cầu cơ bản. Ở cấp hộ gia đình, giảm nghèo được hiểu là nâng cao mức độ thỏa mãn các nhu cầu cơ bản của hộ gia đình; hay còn gọi là thu hẹp khoảng cách nghèo [18]. 

Trên thực tế, chuẩn nghèo được thể hiện bằng một mức thu nhập cụ thể. Do vậy, giảm nghèo cũng có thể được hiểu là nâng cao thu nhập (để nâng cao mức độ thỏa mãn các nhu cầu cơ bản). 

Bản chất của giảm nghèo là cải thiện hay nâng cao mức độ thỏa mãn các nhu cầu cơ bản. Nhưng mục tiêu của giảm nghèo là phải thoát nghèo (vượt chuẩn nghèo). Do vây các hoạt động hỗ trợ giảm nghèo nếu chỉ đặt mục tiêu là cải thiện mức độ thỏa mãn các nhu cầu cơ bản là chưa đủ, mà cần phải xác định mục tiêu là thoát nghèo, có nghĩa là thỏa mãn các nhu cầu cơ bản ở mức độ cao (so với chuẩn). 

Ở cấp độ cộng đồng, giảm nghèo được xem trong một tổng thể, bao gồm  biến động tình trạng nghèo của nhiều hộ gia đình với các trạng thái khác nhau, như tái nghèo, nghèo kinh niên, thoát nghèo, cận nghèo,… Một số trạng thái nghèo liên quan này được khái niệm như sau: 

Tái nghèo: Là tình trạng một hộ gia đình hay người đã thoát nghèo nhưng lại rơi vào nghèo sau một thời gian nhất định, thường là dưới 3 năm [52]; hay những hộ đã thoát nghèo trong quá trình phát triển nhưng sau do nhiều lý do khách quan hay chủ quan lại rơi vào tình trạng nghèo [38, tr.416]. 

Nghèo mới: Là tình trạng hộ hay người được xác định là nghèo lần đầu hoặc không phải là lần đầu nhưng đã có thời gian thoát nghèo trước đó từ 3 năm trở lên [52]. 

Nghèo kinh niên: Là tình trạng người hay hộ được xác định là nghèo liên  tục trong nhiều năm, thường là từ 3 năm trở lên [52] – hay là hộ được xác định là nghèo cả trong 3 kỳ điều tra VHLSS, hay là hộ có trong danh sách hộ nghèo liên tiếp trong 4 năm (2007-2010).

Thoát nghèo: Là tình trạng một hộ trước thời điểm điều tra/rà soát là nghèo nhưng tại thời điểm điều tra/rà soát đã có mức thu nhập bình quân cao hơn chuẩn nghèo [52]. Như vậy, khi mức thu nhập bình quân đầu người của hộ cao hơn chuẩn nghèo thì hộ đó được coi là thoát nghèo. 

Cận nghèo: Là tình trạng một hộ hay người không nghèo nhưng có mức thu nhập bình quân đầu người gần (cận) với chuẩn nghèo. Ví dụ, theo hướng dẫn của  Bộ LĐTBXH, người cận nghèo là người có mức sống đo bằng thu nhập hoặc chi tiêu cao hơn từ 1 đến 1,3 lần chuẩn nghèo chung [4]; ở Việt Nam trong giai đoạn 2011-2015, chuẩn cận nghèo được quy định bằng 130% chuẩn nghèo.

1.3. Giảm nghèo bền vững

“Giảm nghèo bền vững” đã được một số nghiên cứu đề cập từ những năm trước 2000. Nhưng đến năm 2008 cụm từ “giảm nghèo bền vững” được sử dụng chính thức trong văn bản hành chính ở Việt Nam tại Nghị quyết số 30a/NQ-CP  ngày 27/12/2008 của Chính phủ về Chương trình hỗ trợ giảm nghèo nhanh và bền vững đối với 61 huyện nghèo; tiếp đó là Nghị quyết số 80/NQ-CP ngày 19/5/2010 của Chính phủ về Định hướng giảm nghèo bền vững giai đoạn 2011-2020; Quyết định số 1489/QĐ-TTg ngày 8/10/2012 của TTCP phê duyệt chương trình giảm nghèo bền vững giai đoạn 2012-2015 và Nghị quyết số 15-NQ/TW ngày 1/6/2012, Hội nghị BCH trung ương khóa XI về một số vấn đề về chính sách xã hội giai đoạn 2012-2020. Tính đến thời điểm này vẫn chưa có một định nghĩa hay khái niệm chính thức về “giảm nghèo bền vững”, nhưng trong các báo cáo (Báo cáo giảm nghèo quốc gia năm 2008, Báo cáo giảm nghèo giai đoạn 2006-2010, báo cáo thực hiện các mục tiêu thiên niên kỷ,…) hay các văn bản hành chính thì tình trạng tái nghèo luôn được xem là “vấn đề cơ bản” đối với giảm nghèo bền vững. 

“Bền vững“ là không lay chuyển được, là vững chắc [47]. Như vậy nên hiểu bền vững là một tiêu chuẩn hay một yêu cầu về sự “chắc chắn“ đối với kết quả giảm nghèo. Mục đích rất rõ ràng của giảm nghèo bền vững chính là đảm bảo hay duy trì thành quả giảm nghèo một cách lâu dài, bền vững [4]. Nếu hiểu “bền vững” với nghĩa là duy trì, là vững chắc thì giảm nghèo bền vững được hiểu là tình trạng  dân cư đạt được mức độ thỏa mãn những nhu cầu cơ bản hay mức thu nhập cao hơn chuẩn (nghèo) và duy trì được mức độ thỏa mãn những nhu cầu cơ bản hay mức thu nhập trên mức chuẩn đó ngay cả khi gặp phải các cú sốc hay rủi ro; giảm nghèo bền vững có thể được hiểu với nghĩa đơn giản là thoát nghèo bền vững hay không tái nghèo.

2. Các yếu tố phản ánh giảm nghèo và giảm nghèo bền vững

Về lý thuyết, nghèo là sự không thỏa mãn các nhu cầu cơ bản. Nên giảm nghèo bền vững được phản ánh thông qua sự cải thiện và duy trì mức độ thỏa mãn các nhu cầu cơ bản ở mức cao (cao hơn chuẩn), thông qua các tiêu chí phản ánh mức độ thỏa mãn nhu cầu về dinh dưỡng, nhà ở, giáo dục, vệ sinh, sức khỏe,… 

Trên thực tế, nghèo được phản ánh và đo lường thông qua thu nhập nên giảm nghèo bền vững có thể được phản ánh thông qua cải thiện thu nhập và duy trì mức thu nhập cao hơn chuẩn nghèo trong một khoảng thời gian nhất định (trong luận án này là 3 năm). 

Mặt khác, như lý giải ở phần trước, theo các tiếp cận sinh kế, giảm nghèo  bền vững là kết quả sinh kế, gồm hai giai đoạn: thoát nghèo và không tái nghèo trong một thời gian nhất định. Vì vậy, giảm nghèo bền vững ở cấp hộ, có thể phản ánh đồng thời thông qua hai tiêu chí: thoát nghèo và không tái nghèo.

Các tiêu chí phản ánh giảm nghèo bền vững

3. Các yếu tố tác động đến giảm nghèo và giảm nghèo bền vững

Tái nghèo, thoát nghèo hay giảm nghèo bền vững được xem là những kết quả sinh kế. Do vậy các yếu tố tác động đến kết quả sinh kế đều có thể tác động đến giảm nghèo, giảm nghèo bền vững. Theo lý thuyết sinh kế, các yếu tố tác động có thể phân thành các nhóm cơ bản như sau: 

Tài sản sinh kế bao gồm vốn con người, vốn vật chất, vốn tài chính, vốn tự nhiên, vốn xã hội đây là những yếu tố được xem là “nội lực“ của người nghèo, hộ nghèo. Một mặt, các tài sản sinh kế phản ánh tình trạng hay mức độ nghèo của hộ thông qua các chỉ báo về đất đai, thu nhập, vốn tín dụng, tiết kiệm, nhà ở, trình độ giáo dục,… Mặt khác, các tài sản kế phản ánh khả năng thỏa mãn các nhu cầu cơ bản, khả năng sản xuất, tạo thu nhập của hộ ví dụ: hộ có vốn con người cao sẽ có cơ hội việc làm tốt, thu nhập cao, mức độ nghèo thấp hơn; hộ có nhiều đất đai tốt (vốn tự nhiên) sẽ có cơ sở phát triển sản xuất nông nghiệp hơn những hộ không có đất đai; hộ có nhiều phương tiện sản xuất (vốn vật chất) có điều kiện tổ chức sản xuất tốt hơn hộ không có; hộ có các quan hệ xã hội (vốn xã hội) tốt hơn sẽ thuận lợi hơn trong huy động các nguồn lực; hộ tiếp cận tốt hơn với các nguồn vốn (vốn tài chính) sẽ có nhiều cơ hội mở rộng sản xuất hơn,… Như vậy, hộ có tài sản sinh kế càng tốt thì càng có nhiều khả năng giảm nghèo nhanh và bền vững. 

Chiến lược và hoạt động sinh kế: Thực chất một phần nhóm yếu tố này thuộc về vốn con người vì vốn con người là yếu tố quan trọng quyết định chiến lược sinh kế. Chiến lược sinh kế phù hợp, hoạt động sinh kế càng hiệu quả thì các tài sản sinh kế càng có cơ hội được cải thiện, tăng trưởng và giảm nghèo. 

Các yếu tố tác động từ bên ngoài, bao gồm: 

Thị trường, thể chế, chính sách liên quan trực tiếp và gián tiếp đến chi phí sản xuất, tiêu thụ, giá cả; cơ chế hỗ trợ hay hạn chế hoạt động sinh kế của hộ; các điều kiện hành chính thuận lợi hay cản trở các giao dịch của hộ gia đình. Ví dụ, giá gạo trên thị trường bị các tư thương lũng loạn gây ảnh hưởng trực tiếp đến người sản xuất lúa, thua lỗ, thu nhập giảm. 

Khoa học kỹ thuật: đây là một trong những yếu tố gắn liền với vốn con người, có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả của các hoạt động sinh kế, nâng cao năng suất lao động và cải thiện thu nhập. Ví dụ, những hộ sản xuất đúng quy trình kỹ thuật sẽ thường có năng suất, chất lượng cao hơn, thu nhập cao và bền vững hơn. 

Hỗ trợ giảm nghèo: là những trợ giúp trực tiếp hay gián tiếp, bằng tiền mặt hay vật chất đối với hộ gia đình nghèo nhằm hỗ trợ hộ nghèo cải thiện các tài sản sinh kế, điều chỉnh chiến lược sinh kế, tăng cường năng lực thực hiện các hoạt động sinh kế. Ví dụ, hỗ trợ hộ nghèo tiền điện, hỗ trợ khám chữa bệnh (cấp thẻ bảo hiểm y tế miễn phí), hỗ trợ giống, hỗ trợ lãi suất tín dụng, hỗ trợ cách thức sản xuất,… 

Cơ sở hạ tầng như đường giao thông, chợ, điện, thủy lợi, nước sinh hoạt, cơ sở giáo dục, cơ sở y tế, thông tin liên lạc đặc biệt có ý nghĩa đảm bảo các điều kiện để phát triển các hoạt động sinh kế, tiếp cận các dịch vụ xã hội, hỗ trợ giảm nghèo. 

Môi trường tự nhiên là các yếu tố tự nhiên có thể tác động thuận lợi hay bất lợi đến các chiến lược sinh kế và hoạt động sinh kế cả hộ gia đình. Ví dụ, thiên tai gây mất mùa, mất nguồn thu nhập dẫn đến nghèo đói… Khi bàn về các yếu tố tác động từ bên ngoài thì sốc hay rủi ro (bao gồm rủi ro tự nhiên như thiên tai; rủi ro môi trường do sản xuất và giao thông như tai nạn; rủi ro kinh tế như khủng hoảng; rủi ro xã hội như tệ nạn xã hội; rủi ro chính trị như các xung đột,…) được đặc biệt quan tâm vì nó tác động tiêu cực đến các tài sản sinh kế và là một nguyên nhân gây ra tình trạng nghèo hay tái nghèo.

Categories
Main

Cơ sở lý luận về phát triển năng lực tư duy cho học sinh

Trong bài viết này, nhanlamluanvan.com xin chia sẻ đến bạn cơ sở lý luận về phát triển năng lực tư duy cho học sinh.

Cơ sở lý luận về phát triển năng lực tư duy cho học sinh

>>> Xem thêm: Cơ sở lý luận về phát triển nguồn nhân lực trong doanh nghiệp

1. Khái niệm năng lực tư duy

Năng lực tư duy là một khả năng, một phẩm chất tâm sinh lý của óc người, vừa như là cái tự nhiên bẩm sinh, “sẵn có”, vừa như là sản phẩm của lịch sử, hơn nữa là sản phẩm của lịch sử phát triển xã hội. Cái vốn có tự nhiên ấy thông qua rèn luyện trong thực tiễn mới trở nên một sức mạnh thật sự có hiệu quả của con người và xã hội. 

Năng lực tư duy là sản phẩm của quá trình phát triển ngày càng cao yếu tố tự nhiên, lịch sử của con người và nhân loại. Nói cách khác, năng lực tư duy ngày càng được nâng cao theo sự phát triển của con người và lịch sử. Nhưng đó không phải là một quá trình tự phát, mà là cả một quá trình tự giác. Nghĩa là con người tự giác rèn luyện, nâng cao năng lực tư duy của mình. 

Năng lực tư duy là tổng hợp những khả năng ghi nhớ, tái hiện, trừu tượng hóa, khái quát hóa, tưởng tượng, suy luận – giải quyết vấn đề, xử lý tình huống trong quá trình phản ánh, phát triển tri thức và vận dụng chúng vào thực tiễn. Cần phải nhận thức rằng hoạt động của tư duy không thể tách rời yếu tố cảm xúc, ý chí ở tầng vô thức và hữu thức. Cảm xúc không phải là tri thức, nhưng lại là một yếu tố cần thiết cấu thành và là môi trường xúc tác của quá trình tư duy.

Năng lực tư duy của con người như bao gồm cả yếu tố bẩm sinh. Thực tế đã chứng minh, yếu tố bẩm sinh có vai trò rất quan trọng nhưng chỉ ở dạng khả năng, có thể rèn luyện nâng cao, phát huy được, vì nếu không có tác nhân xã hội thì sẽ mai một dần. Theo chủ tịch Hồ Chí Minh, “năng lực của người không phải hoàn toàn do tự nhiên mà có, mà một phần lớn do công tác tập luyện mà có”. 

Năng lực tư duy xét về mặt tinh thần, trí tuệ, mặt bản chất xã hội, phải được đổi mới, rèn luyện, bổ sung không ngừng. Tuy nhiên, tùy theo từng bộ phận cấu thành của tư duy mà có sự rèn luyện, đổi mới khác nhau ít hoặc nhiều trên cơ sở các quy luật của tư duy và quy luật của tồn tại. Mác đã nói, tri thức là phương thức tồn tại của ý thức, rèn luyện và phát triển năng lực tư duy trước hết là nâng cao trình độ tri thức, để tạo nền cho năng lực tư duy. 

Năng lực tư duy không chỉ là năng lực tư duy hình thức mà chủ yếu là năng lực tư duy biện chứng. Do đó, để phát triển năng lực tư duy, phải bồi dưỡng và phát triển tính biện chứng của tư duy (khả năng nhận ra và thống nhất các mặt đối lập, mối liên hệ và sự chuyển hóa giữa các khái niệm, phạm trù; năng lực trừu tượng hóa, khái quát hóa, suy luận, theo quy luật biện chứng tồn tại). Nâng cao năng lực tư duy không phải là mục đích tự thân mà là để giải quyết thành công những vấn đề thực tiễn [67]. 

Thế kỷ XXI, kỷ nguyên của khoa học công nghệ, của trí tuệ, của thực tiễn đa dạng, luôn biến đổi nhanh chóng và thông tin, chất xám, khoa học ngày càng có vai trò quan trọng trong cuộc thử thách, cạnh tranh về trí tuệ. Năng lực tư duy đã trở thành một năng lực cơ bản nhất cần có ở mỗi con người. Vì vậy việc nâng cao năng lực tư duy là vấn đề quan trọng trong chiến lược phát triển con người ở nước ta.

2. Các cấp độ của tư duy

Trong lĩnh vực giáo dục, thang cấp độ tư duy có thể được xem là một công cụ nền tảng để từ đó xây dựng và sắp xếp các mục tiêu giáo dục, xây dựng các chương trình, qui trình giáo dục và đào tạo, xây dựng và hệ thống hóa các câu hỏi, bài tập dùng để kiểm tra, đánh giá quá trình học tập. Thang cấp độ tư duy đầu tiên được xây dựng bởi Benjamin S. Bloom (1956) [10], thường được gọi tắt là Thang Bloom hay Bảng phân loại Bloom (Bloom’s Taxonomy) bao gồm 6 cấp độ sau: 

Biết (knowledge): Là sự nhớ lại các dữ liệu đã học được trước đây, nghĩa là có thể nhận biết thông tin, ghi nhớ, nhắc lại một loạt dữ liệu, từ các sự kiện đơn giản đến các lý thuyết phức tạp, tái hiện trong trí nhớ những thông tin cần thiết.

Thông hiểu (comprehension): Là mức thấp nhất của việc thấu hiểu sự vật, được định nghĩa là khả năng nắm được, hiểu được ý nghĩa của tài liệu, có thể chuyển thông tin từ dạng này sang dạng khác (từ lời sang công thức, kí hiệu, số liệu và ngược lại), giải thích thông tin (giải thích hoặc tóm tắt) và ước lượng xu hướng tương lai (dự báo các hệ quả hoặc ảnh hưởng). 

Vận dụng (application): Là cấp độ thấu hiểu cao hơn, là khả năng sử dụng các tài liệu đã học vào một hoàn cảnh cụ thể mới, nghĩa là áp dụng các quy tắc, phương pháp, khái niệm, nguyên lý, định luật và lý thuyết để giải quyết một vấn đề nào đó bằng cách so sánh các phương án, phát hiện lời giải có sai lầm và chỉnh sửa được, giải quyết được tình huống mới, khái quát hóa, trừu tượng hóa tình huống quen thuộc sang tình huống mới phức tạp hơn. 

Phân tích (analysis): Thể hiện một mức độ trí tuệ cao hơn so với mức hiểu và áp dụng, là khả năng phân chia một tài liệu ra thành các phần sao cho có thể hiểu được các cấu trúc, tổ chức của nó, chỉ ra đúng các bộ phận, phân tích mối quan hệ giữa các bộ phận, nhận biết được các nguyên lý tổ chức được bao hàm, đòi hỏi thấu hiểu cả nội dung và hình thái cấu trúc của tài liệu. 

Tổng hợp (synthesis): Nhấn mạnh các hành vi mang tính sáng tạo, là khả năng sắp xếp các bộ phận lại với nhau để hình thành một tổng thể mới, có thể là một chủ đề hoặc bài phát biểu, một kế hoạch hành động (dự án nghiên cứu) hoặc một mạng lưới các quan hệ trừu tượng (sơ đồ phân lớp thông tin), đặc biệt tập trung chủ yếu vào việc hình thành các mô hình hoặc cấu trúc mới. 

Đánh giá (evaluation): Là cấp bậc nhận thức cao nhất, là khả năng xác định giá trị của thông tin, tài liệu. Việc đánh giá dựa trên các tiêu chí nhất định, có thể là các tiêu chí bên trong (cách tổ chức) hoặc các tiêu chí bên ngoài (phù hợp với mục đích), và người đánh giá phải tự xác định hoặc được cung cấp các tiêu chí.

3. Phát triển năng lực tư duy cho học sinh

Phát triển năng lực tư duy thực chất là hình thành và phát triển năng lực nhận thức, năng lực suy nghĩ linh hoạt, sáng tạo cho học sinh mà bước đầu là giải các “bài toán” nhận thức, vận dụng vào bài toán “thực tiễn” một cách chủ động và độc lập ở các mức độ khác nhau.

Hình thành và phát triển năng lực nhận thức được thực hiện thường xuyên, liên tục, thống nhất, có hệ thống – điều này đặc biệt quan trọng đối với HS. 

Hình thành và phát triển năng lực nhận thức được thực hiện từ việc rèn luyện năng lực quan sát, phát triển trí nhớ và tưởng tượng, trau dồi ngôn ngữ, nắm vững các kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo, phương pháp nhận thức – những yếu tố này ảnh hưởng lớn tới sự phát triển năng lực nhận thức. 

* Để phát triển năng lực tư duy cho HS cần đảm bảo các yếu tố sau: 

Vốn di truyền về tư chất tối thiểu cho HS (cấu tạo não bộ, số lượng và chất lượng nơron thần kinh); 

Vốn kiến thức tích lũy phải đầy đủ và hệ thống; 

Phương pháp dạy và phương pháp học phải thực sự khoa học; 

Chú ý tới đặc điểm lứa tuổi và sự bảo đảm về vật chất và tinh thần. 

* Trong quá trình tổ chức học tập ta cần chú ý đến các hướng cơ bản sau: 

Sử dụng các phương pháp dạy học mang tính chất nghiên cứu, kích thích được hoạt động nhận thức, rèn luyện tư duy độc lập sáng tạo; 

Hình thành và phát triển ở HS năng lực giải quyết vấn đề, tăng cường tính độc lập trong hoạt động. Người GV cần phải dạy cho HS biết cách lập kế hoạch làm việc, phân tích các yêu cầu của nhiệm vụ học tập và đề ra phương pháp giải quyết vấn đề một cách hợp lý, sáng tạo. 

Như vậy, năng lực nhận thức, năng lực trí tuệ được phát triển khi tư duy được phát triển.

4. Đánh giá trình độ phát triển năng lực tư duy của học sinh

4.1. Dấu hiệu đánh giá trình độ phát triển năng lực tư duy 

Sự phát triển tư duy nói chung được đặc trưng bởi sự tích lũy các thao tác tư duy thành thạo và vững chắc của con người và có thể đánh giá qua các dấu hiệu: 

Có khả năng tự lực chuyển các tri thức và kỹ năng sang một tình huống mới. 

Tái hiện nhanh chóng kiến thức, các mối quan hệ cần thiết để giải một bài toán, thiết lập nhanh chóng các mối quan hệ bản chất giữa các sự vật, hiện tượng. 

Có khả năng phát hiện cái chung của các hiện tượng khác nhau, sự khác nhau giữa các hiện tượng tương tự. 

Có năng lực áp dụng kiến thức vào thực tế.

Theo GS. Nguyễn Ngọc Quang [42], để đánh giá trình độ phát triển tư duy của HS thông qua quá trình dạy học, chúng ta cần đánh giá: Khả năng nắm vững (hiểu, nhớ, vận dụng thành thạo) những cơ sở khoa học một cách tự giác, tự lực, tích cực, sáng tạo của HS. 

Trình độ phát triển năng lực nhận thức và năng lực thực hành trên cơ sở nắm vững những cơ sở khoa học. 

Trong quá trình học tập, HS phải giải quyết những vấn đề đòi hỏi phải liên tưởng đến những kiến thức đã học trước đó. HS phải có sự định hướng tốt, biết phân tích, suy đoán và vận dụng các thao tác tư duy thích hợp để tổ chức thực hiện có hiệu quả. Thực chất của việc phát triển tư duy là hình thành và phát triển năng lực suy nghĩ linh hoạt, sáng tạo cho HS mà bước đầu là giải các “bài toán” nhận thức, vận dụng vào thực tiễn một cách chủ động và độc lập ở các mức độ khác nhau. Đây là chỉ tiêu rõ nhất về trình độ phát triển năng lực tư duy của HS. 

4.2. Đánh giá trình độ phát triển năng lực tư duy của HS 

Nghiên cứu thang phân loại năng lực tư duy của Bloom và thực tế trình độ nhận thức của HS THPT hiện nay của nước ta, nhiều nhà giáo dục học cho rằng: sự phân chia tư duy theo mức độ của thang Bloom khó thực hiện. Muốn đào tạo thế hệ trẻ năng động sáng tạo trong quá trình dạy học nói chung và dạy học hóa học nói riêng, mỗi GV cần phải chú ý phối hợp nhiều phương pháp, hình thức cho phù hợp thực tế. Vì vậy cần xây dựng và sử dụng hệ thống các phương pháp, kỹ thuật dạy học để nâng cao năng lực nhận thức, phát triển tư duy và rèn luyện năng lực hành động cho HS một cách hiệu quả nhất. 

Tóm lại, tư duy là quá trình nhận thức phản ánh những thuộc tính bản chất, những mối liên hệ bên trong có tính quy luật của sự vật, hiện tượng trong hiện thực khách quan mà trước đó ta chưa biết. Như vậy ta thấy tư duy là quá trình tìm kiếm và phát hiện cái mới về chất một cách độc lập. Nét nổi bật của tư duy là tính “có vấn đề”, tức là trong hoàn cảnh có vấn đề, tư duy được nảy sinh. Tư duy là nhận thức ở mức độ lí tính nhưng có liên quan chặt chẽ đến nhận thức cảm tính.

Categories
Main

Tổng quan về lập kế hoạch kinh doanh

Nhanlamluanvan.com xin chia sẻ đến bạn tổng quan về lập kế hoạch kinh doanh, bao gồm: Khái niệm, vai trò, mục đích và tiến trình.

Tổng quan về lập kế hoạch kinh doanh

>>> Xem thêm: Tổng hợp các phương pháp định giá doanh nghiệp

1. Khái niệm và vai trò và mục đích của việc lập kế hoạch kinh doanh

1.1. Khái niệm

Kế hoạch là một tập hợp những hoạt động được sắp xếp theo lịch trình, có thời hạn, nguồn lực, ấn định những mục tiêu cụ thể và xác định biện pháp tốt nhất… để thực hiện một mục tiêu cuối cùng đã được đề ra. Khi chúng ta lập được kế hoạch thì tư duy quản lý sẽ có hệ thống hơn để có thể tiên liệu được các tình huống sắp xảy ra. Có kế hoạch sẽ tập trung được các nguồn lực của cá nhân, tổ chức để tạo nên một sức mạnh tổng hợp, có thể giữ vững “mũi tiến công” vào mục tiêu cuối cùng mình muốn hướng đến. Bên cạnh đó, cũng sẽ dễ dàng kiểm tra, giám sát hiệu quả thực hiện dự án của mình. 

Kế hoạch kinh doanh là một bản miêu tả về một ý định kinh doanh mà nhà quản lý doanh nghiệp muốn thực hiện. Nó cũng là một kế hoạch về việc nhà quản trị doanh nghiệp muốn điều hành và phát triển ý định kinh doanh đó như thế nào. 

Kế hoạch kinh doanh nó có tác dụng đối với doanh nghiệp nói riêng và hoạt động của con người nói chung như sau: 

Nghiên cứu và quản lý sự thay đổi: Môi trường phát triển tất yếu dẫn đến sự thay đổi. Một lĩnh vực được ưu tiên sẽ là nghiên cứu những thay đổi mới có liên quan đến hàng hoá và thị trường. Sự thay đổi của môi trường và những yếu tố nội bộ sẽ là những yếu tố làm cản trở việc thực hiện kế hoạch. 

Vạch ra những con đường phát triển gắn bó: Đó là đảm bảo tính liên kết giữa các mục tiêu và phân chia các nguồn vốn của doanh nghiệp. Các mục tiêu phối hợp sẽ được phản ánh ở các kế hoạch sản xuất, tài chính, tiếp thị, ngân sách ……

Cải thiện hiệu năng của doanh nghiệp: Công tác kế hoạch cho phép tối ưu hoá nguồn vốn của doanh nghiệp, thông qua việc thực hiện hoạch định kinh doanh mà tài nguyên không bị lãng phí, từ đó doanh nghiệp ấn định mục tiêu tiến độ, và có tính khả thi. 

Hợp thành phương tiện quản lý: Kế hoạch hoá thuộc kỹ thuật hợp lý hoá quá trình ra quyết định và tạo thành nền tảng cho hoạt động quản trị kinh doanh. Kế hoạch hoá là một trong những phương tiện quản lý gồm các nội dung cơ bản sau: Chẩn đoán, xây dựng chiến lược, kế hoạch hoá thực sự. 

Lập kế hoạch là công cụ đắc lực trong công việc phối hợp nỗ lực của các thành viên trong doanh nghiệp, nó cho biết hướng đi của doanh nghiệp. Khi lập kế hoạch, sẽ xác định được mục tiêu, các thành viên trong doanh nghiệp sẽ phối hợp hoạt động vì mục tiêu chung của tổ chức. Thiếu kế hoạch, sẽ khó khăn trong việc xác định quỹ đạo của doanh nghiệp, lập kế hoạch có tác dụng làm giảm tính bất ổn định của doanh nghiệp, lập kế hoạch buộc các nhà quản trị phải nhìn về phía trước, dự đoán những thay đổi trong nội bộ và ngoài môi trường. 

Lập kế hoạch giảm được sự chồng chéo và những hoạt động lãng phí, tạo mục tiêu và tiêu chí rõ ràng, không lãng phí tài nguyên khi đi lệch quỹ đạo. Lập kế hoạch cung cấp những tiêu chuẩn cho công tác kiểm tra, lập kế hoạch và công tác kiểm tra là những công việc không thể tách biệt, không có kế hoạch cũng không có công tác kiểm tra (vì ta biết kiểm tra giữ cho hoạt động theo đúng kế hoạch bằng cách điều chỉnh các sai lệch. Như vậy kế hoạch cung cấp cho ta những tiêu chuẩn để kiểm tra) 

Kế hoạch hoá là quá trình định hướng và điều khiển theo định hướng đối với sự phát triển sản xuất theo quy luật tái sản xuất mở rộng ở mọi cấp của nền kinh tế. Cùng với quá trình phát triển lực lượng sản xuất, quá trình xã hội hoá sản xuất và nở rộng phân công hiệp tác lao động, phạm vi và trình độ kế hoạch hoá ngày càng được nâng cao tương xứng. Trên phương diện đó, kế hoạch hoá là thành quả chung của mọi hình thái kinh tế xã hội. 

Đối với nhà quản trị, khả năng lập kế hoạch chính là yếu tố quan trọng nhất phản ánh trình độ năng lực, nó quyết định rằng anh ta có điều hành được hay không. Nói cách khác, khả năng và kỹ năng lập kế hoạch được coi là những tiêu chuẩn quan trọng nhất về năng lực của cán bộ quản lý. Sự thành công hay thất bại trong hoạt động của tổ chức do anh ta điều hành sẽ chủ yếu phụ thuộc vào chất lượng của kế hoạch hoạt động do anh ta chủ động soạn thảo hoặc lãnh đạo soạn thảo.

Ngoài ra, việc chuẩn bị bản kế hoạch tạo cơ hội hoàn thiện những phương pháp kế hoạch hoá được sử dụng trong công việc kinh doanh, đồng thời giúp cho việc trình bày về doanh nghiệp của tổ chức trước các đối tác mang tính chuyên nghiệp hơn, tổ chức có thể quyết định lập một kế hoạch nhằm đáp ứng một hay nhiều nhu cầu như: 

Tìm kiếm nguồn tài trợ, một kế hoạch kinh doanh tốt là công cụ có tính thuyết phục nhất mà tổ chức có thể sử dụng, đồng thời cũng là tài liệu bắt buộc phải có đối với các tổ chức.

Đưa ra định hướng, quá trình chuẩn bị bản kế hoạch giúp tổ chức suy nghĩ một cách khách quan về doanh nghiệp của mình, về những điểm mạnh điểm yếu nội tại, những cơ hội và mối đe dọa từ bên ngoài, sự cần thiết và thời điểm ra những quyết định chiến lược. 

Truyền đạt được tới đối tác tới nhà đầu tư cũng như những nhân viên chủ chốt, qua đó củng cố niềm tin vào các mối quan hệ, sự tín nhiệm cũng như khuyến khích và tập trung hơn nữa những nỗ lực của nhân viên, tóm lại là tạo ra được một tầm nhìn chung. 

Tạo ra những công cụ quản lý mới, quá trình chuẩn bị một bản kế hoạch sẽ cung cấp những phương tiện quản lý có lợi về lâu dài cho tổ chức. Những phương pháp này có thể được sử dụng lại khi các bản kế hoạch được cập nhật hoặc lập cho những mục đích khác. 

Ví dụ: Vì sao các doanh nghiệp nhỏ ít lập kế hoạch kinh doanh: 

Như ta biết kế hoạch kinh doanh là một bản tổng hợp các công việc từ ý tưởng kinh doanh, hoạch định kinh doanh của một dự án kinh doanh, đầu tư … một kế hoạch kinh doanh tốt chỉ ra các vấn đề cần thiết để chuẩn bị trước khi thực hiện dự án đầu tư và những việc cần phải làm khi thực hiện dự án đầu tư. 

Thực tế các doanh nghiệp nhỏ thường không chú trọng đến công tác lập kế hoạch sản xuất kinh doanh bởi vì: 

Trước hết, các doanh nghiệp nhỏ thường không có phòng kế hoạch đầu tư. Bộ phận bán hàng và kinh doanh thường chỉ chú trọng vào công việc của mình mà không quan tâm tới công tác lập kế hoạch cho cả doanh nghiệp, chủ doanh nghiệp lại quá bận rộn với công tác quản lý không có thời gian để tập trung vào công tác lập kế hoạch vạch ra chiến lược và mục tiêu do đó công tác lập kế hoạch thường ngắt quãng hoặc năm có năm không. 

Các chủ doanh nghiệp nhỏ trực tiếp tham gia quản lý điều hành doanh nghiệp, họ thường nghĩ rằng mình có chiến lược trong đầu cộng với một đội ngũ nhân viên kinh doanh và sản xuất giỏi là đủ, họ thường chỉ nghĩ kế hoạch chỉ là một xấp giấy chứ không mang lại lợi ích nào cho doanh nghiệp. Thực ra để có được một bản kế hoạch kinh doanh, phải giành một thời gian nhất định để phân tích tình hình thị trường, vạch ra mục tiêu định hướng một cách đầy đủ hơn là chỉ suy nghĩ trong đầu. 

Một lý do quan trọng nữa là các doanh nghiệp nhỏ thường thiếu thông tin, không có đầy đủ nhân viên để theo dõi biến động trên thị trường và tình hình cạnh tranh, chưa áp dụng công nghệ thông tin đặc biệt là internet, để tổng hợp phân tích thông tin trên thị trường trong nước và thế giới, các doanh nghiệp này cũng chưa quan tâm tới các tổ chức hỗ trợ các doanh nghiệp vừa và nhỏ và những thông tin mà tổ chức này cung cấp. 

Doanh nghiệp nhỏ còn có nguồn tài chính nhỏ không có điều kiện để mua thông tin thị trường từ các công ty nghiên cứu thị trường nên các doanh nghiệp nhỏ thường đi sau các tập đoàn lớn trong việc phát triển ý tưởng kinh doanh và sản phẩm. Lý do cơ bản vẫn là do nhiều doanh nghiệp vẫn chưa có khả năng lập kế hoạch kinh doanh, điều này không có nghĩa là các doanh nghiệp này làm ăn dở, mà nhiều khi ngược lại. Nhưng nếu không có chiến lược kinh doanh và kế hoạch kinh doanh cụ thể thì dù các doanh nghiệp có làm ăn khấm khá nhưng vẫn gặp phải nhiều khó khăn, nhất là khi gặp phải những cơ hội đầu tư mới, phải ra những quyết định quan trọng, chủ doanh nghiệp không biết quyết định của mình đúng hay không, khả năng có mang lại lợi nhuận hay không.

1.2. Vai trò

  • Kế hoạch kinh doanh là công cụ đắc lực trong việc phối hợp nỗ lực của các thành viên trong doanh nghiệp. 
  • Giúp cho doanh nghiệp tập trung ý tưởng và đánh giá tính khả thi. 
  • Lập kế hoạch có tác dụng làm giảm tính bất ổn định của doanh nghiệp. 
  • Lập kế hoạch giảm được sự chồng chéo và những hoạt động lãng phí.
  • Thiết lập nên những tiêu chuẩn tạo điều kiện cho công tác kiểm tra.

1.3. Mục đích của việc lập kế hoạch kinh doanh

Nghiên cứu và quản lý sự thay đổi: Môi trường phát triển tất yếu dẫn đến sự thay đổi. Một lĩnh vực được ưu tiên sẽ là nghiên cứu những thay đổi mới có liên quan đến hàng hoá và thị trường. Sự thay đổi của môi trường và những yếu tố nội bộ sẽ là những yếu tố làm cản trở việc thực hiện kế hoạch. 

Vạch ra những con đường phát triển gắn bó: Đó là đảm bảo tính liên kết giữa các mục tiêu và phân chia các nguồn vốn của doanh nghiệp. Các mục tiêu phối hợp sẽ được phản ánh ở các kế hoạch sản xuất, tài chính, tiếp thị, ngân sách …… 

Cải thiện hiệu năng của doanh nghiệp: Công tác kế hoạch cho phép tối ưu hoá nguồn vốn của doanh nghiệp, thông qua việc thực hiện hoạch định kinh doanh mà tài nguyên không bị lãng phí, từ đó doanh nghiệp ấn định mục tiêu tiến độ, và có tính khả thi.

Hợp thành phương tiện quản lý: Kế hoạch hoá thuộc kỹ thuật hợp lý hoá quá trình ra quyết định và tạo thành nền tảng cho hoạt động quản trị kinh doanh. Kế hoạch hoá là một trong những phương tiện quản lý gồm các nội dung cơ bản sau: Chẩn đoán, xây dựng chiến lược, kế hoạch hoá thực sự. 

Lập kế hoạch, định hướng cho mọi hoạt động sản xuất kinh doanh xuất phát từ những cơ sở chủ yếu sau: 

Các nguồn tài nguyên hạn chế: Sự khan hiếm tài nguyên là một vấn đề đặc biệt quan trọng bởi nó sẽ là một căn cứ chủ yếu để có thể dự báo tương lai của cong người. Các nguồn tài nguyên như dầu mỏ, nước sạch không khí trong lành… đang ngày càng trở nên khan hiếm là một thách thức ngày càng quan trọng đối với nhà hoạch định. Nguồn tài nguyên hạn chế đòi hỏi các doanh nghiệp phải có kế hoạch để sử dụng có hiệu quả nhất các nguồn tài nguyên đó. 

Tính không chắc chắn của môi trường: Tình trạng không chắc chắn và hậu quả không chắc chắn của môi trường tác động đến những dự định cho kế hoạch tương lai của nhà doanh nghiệp, đòi hỏi họ phải dự đoán trước những bất ổn, những rủi ro có thể xảy ra, những hậu quả không mong muốn đối với hoạt động kinh doanh của họ.

2. Tiến trình lập kế hoạch kinh doanh

Từ dự báo bán hàng dài hạn chúng ta chuẩn bị được bảng kế hoạch bán hàng cho năm kế hoạch. Bắt đầu từ bảng kế hoạch bán hàng chúng ta đi xây dựng được các kế hoạch sản xuất hay kế hoạch mua hàng đi cùng với các kế hoạch chi tiết về sử dụng các yếu tố chi phí sản xuất và chi phí thời kỳ và sau cùng là kế hoạch tài chính. 

Quy trình này được nhóm tác giả Võ Thành Danh, Bùi Văn Trịnh, La Xuân Đào biên soạn như sau:

3. Hệ thống kế hoạch kinh doanh

Một hệ thống kế hoạch kinh doanh tiêu biểu phải tuân thủ các nguyên tắc sau đây:

Categories
Main

Tổng quan về dịch vụ logistics

Nhanlamluanvan.com xin chia sẻ đến bạn tổng quan về dịch vụ logistics, bao gồm: Khái niệm, vai trò và phân loại một cách chi tiết nhất.

Tổng quan về dịch vụ logistics

>>> Xem thêm: Tổng quan về lập kế hoạch kinh doanh

1. Khái niệm dịch vụ logistics

Cùng với sự phát triển của lực lượng sản xuất và sự hỗ trợ đắc lực của cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật trên thế giới, khối lượng hàng hóa và sản phẩm vật chất được sản xuất ra ngày càng nhiều. Do khoảng cách trong các lĩnh vực cạnh tranh truyền thống như chất lượng hàng hóa hay giá cả ngày càng thu hẹp, các nhà sản xuất đã chuyển sang cạnh tranh về quản lý hàng tồn kho, tốc độ giao hàng, hợp lý hóa quá trình lưu chuyển nguyên nhiên vật liệu và bán thành phẩm, … trong cả hệ thống quản lý phân phối vật chất của doanh nghiệp. Trong quá trình đó, logistics có cơ hội phát triển ngày càng mạnh mẽ hơn trong lĩnh vực kinh doanh. Trong thời gian đầu, logistics chỉ đơn thuần được coi là một phương thức kinh doanh mới, mang lại hiệu quả cao cho các doanh nghiệp. Cùng với quá trình phát triển, logistics đã được chuyên môn hóa và phát triển trở thành một ngành dịch vụ đóng vai trò rất quan trọng trong giao thương quốc tế. 

Trong Luật Thương mại 2005, lần đầu tiên khái niệm về dịch vụ logistics được pháp điển hóa. Luật quy định “Dịch vụ logistics là hoạt động thương mại, theo đó thương nhân tổ chức thực hiện một hoặc nhiều công đoạn bao gồm nhận hàng, vận chuyển, lưu kho, lưu bãi, làm thủ tục hải quan, các thủ tục giấy tờ khác, tư vấn khách hàng, đóng gói bao bì, ghi ký mã hiệu, giao hàng hoặc các dịch vụ khác có liên quan tới hàng hóa theo thỏa thuận với khách hàng để hưởng thù lao”. 

Mặc dù có nhiều quan điểm khác nhau nhưng các khái niệm về dịch vụ logistics có thể chia làm hai nhóm: 

* Nhóm định nghĩa hẹp mà tiêu biểu là định nghĩa của Luật Thương mại 2005 có nghĩa hẹp, coi logistics gần tương tự với hoạt động giao nhận hàng hóa. Tuy nhiên cũng cần chú ý là định nghĩa trong Luật Thương mại có tính mở, thể hiện trong đoạn in nghiêng “hoặc các dịch vụ khác có liên quan tới hàng hóa”. Khái niệm logistics trong một số lĩnh vực chuyên ngành cũng được coi là nghĩa hẹp, tức là chỉ bó hẹp trong phạm vi, đối tượng của ngành đó (như ví dụ ở trên là trong lĩnh vực quân sự). Theo quan điểm này, bản chất của dịch vụ logistics là việc tập hợp các yếu tố hỗ trợ cho quá trình vận chuyển sản phẩm từ nơi sản xuất tới nơi tiêu thụ. Như vậy, dịch vụ logistics mang nhiều yếu tố vận tải, người cung cấp dịch vụ logistics theo khái niệm này không có nhiều khác biệt so với người cung cấp dịch vụ vận tải đa phương thức (MTO). 

Nhóm định nghĩa có phạm vi rộng. Theo quan điểm này, dịch vụ logistics gắn liền cả quá trình nhập nguyên, nhiên vật liệu làm đầu vào cho quá trình sản xuất, sản xuất ra hàng hóa và đưa vào các kênh lưu thông, phân phối để đến tay người tiêu dùng cuối cùng. Nhóm định nghĩa này của dịch vụ logistics góp phần phân định rõ ràng giữa các nhà cung cấp từng dịch vụ đơn lẻ như dịch vụ vận tải, giao nhận, khai thuê hải quan, phân phối, dịch vụ hỗ trợ sản xuất, tư vấn quản lý … với một nhà cung cấp dịch vụ logistics chuyên nghiệp, người sẽ đảm nhận toàn bộ các khâu trong quá trình hình thành và đưa hàng hóa tới tay người tiêu dùng cuối cùng. Như vậy, nhà cung cấp dịch vụ logistics chuyên nghiệp đòi hỏi phải có chuyên môn, nghiệp vụ vững vàng để cung cấp dịch vụ mang tính “trọn gói” cho các nhà sản xuất. Đây là một công việc mang tính chuyên môn hóa cao.

2. Vai trò của dịch vụ logistics

Dịch vụ logistics góp phần nâng cao hiệu quả quản lý, giảm thiểu chi phí trong quá trình sản xuất, tăng cường sức cạnh tranh cho các doanh nghiệp. 

Theo thống kê của một nghiên cứu, hoạt động logistics trên thị trường Trung Quốc tăng trưởng với tốc độ bình quân là 33%/năm và ở Brazil là 20%/năm. Bên cạnh đó, từ số liệu thống kê của một số tổ chức nghiên cứu về dịch vụ logistics cho biết chi phí cho hoạt động dịch vụ logistics chiếm 10-13% GDP ở các nước phát triển, ở các nước đang phát triển cao hơn khoảng 15-20%. Điều này cho thấy chi phí cho dịch vụ logistics là rất lớn, vì vậy với việc hình thành và phát triển dịch vụ logistics sẽ giúp các doanh nghiệp cũng như toàn bộ nền kinh tế quốc dân giảm được chi phí trong chuỗi logistics, làm cho quá trình sản xuất kinh doanh tinh giản hơn và đạt hiệu quả hơn. Giảm chi phí trong sản xuất, quá trình sản xuất kinh doanh tinh giản, hiệu quả sản xuất kinh doanh được nâng cao góp phần tăng sức cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường. Thực tế những năm qua tại các nước Châu Âu, chi phí logistics đã giảm xuống rất nhiều và còn có xu hướng giảm nữa trong các năm tới.

Dịch vụ logistics có tác dụng tiết kiệm và giảm chi phí trong hoạt động lưu thông phân phối. 

Giá cả hàng hóa trên thị trường chính bằng giá cả ở nơi sản xuất cộng với chi phí lưu thông. Chi phí lưu thông hàng hóa, chủ yếu là phí vận tải chiếm một tỷ lệ không nhỏ và là bộ phận cấu thành giá cả hàng hóa trên thị trường, đặc biệt là hàng hóa trong buôn bán quốc tế. Vận tải là yếu tố quan trọng của lưu thông. C. Mác đã từng nói “Lưu thông có ý nghĩa là hành trình thực tế của hàng hóa trong không gian được giải quyết bằng vận tải”. Vận tải có nhiệm vụ đưa hàng hóa đến nơi tiêu dùng và tạo khả năng để thực hiện giá trị và giá trị sử dụng của hàng hóa. Trong buôn bán quốc tế, chi phí vận tải chiếm tỷ trọng khá lớn, theo số liệu thống kê của UNCTAD thì chi phí vận tải đường biển chiếm trung bình 10-15% giá FOB, hay 8-9% giá CIF. Mà vận tải là yếu tố quan trọng nhất trong hệ thống logistics cho nên dịch vụ logistics ngày càng hoàn thiện và hiện đại sẽ tiết kiệm chi phí vận tải và các chi phí khác phát sinh trong quá trình lưu thông dẫn đến tiết kiệm và giảm chi phí lưu thông. Nếu tính cả chi phí vận tải, tổng chi phí logistics (bao gồm đóng gói, lưu kho, vận tải, quản lý, …) ước tính chiếm tới 20% tổng chi phí sản xuất ở các nước phát triển, trong khi đó nếu chỉ tính riêng chi phí vận tải có thể chiếm tới 40% giá trị xuất khẩu của một số nước không có đường bờ biển. 

Dịch vụ logistics góp phần gia tăng giá trị kinh doanh của các doanh nghiệp vận tải giao nhận. 

Dịch vụ logistics là loại hình dịch vụ có quy mô mở rộng và phức tạp hơn nhiều so với hoạt động vận tải giao nhận thuần túy. Trước kia, người kinh doanh dịch vụ vận tải giao nhận chỉ cung cấp cho khách hàng những dịch vụ đơn giản, thuần túy và đơn lẻ. Ngày nay, do sự phát triển của sản xuất, lưu thông, các chi tiết của một sản phẩm có thể do nhiều quốc gia cung ứng và ngược lại một loại sản phẩm của doanh nghiệp có thể tiêu thụ tại nhiều quốc gia, nhiều thị trường khác nhau, vì vậy dịch vụ mà khách hàng yêu cầu từ người kinh doanh vận tải giao nhận phải đa dạng và phong phú. Người vận tải giao nhận ngày nay đã triển khai cung cấp các dịch vụ nhằm đáp ứng yêu cầu thực tế của khách hàng. Họ trở thành người cung cấp dịch vụ logistics (logistics service provider). Rõ ràng, dịch vụ logistics đã góp phần làm gia tăng giá trị kinh doanh của các doanh nghiệp vận tải giao nhận. Theo kinh nghiệm ở những nước phát triển cho thấy, thông qua việc sử dụng dịch vụ logistics trọn gói, các doanh nghiệp sản xuất có thể rút ngắn thời gian từ lúc nhận đơn hàng cho đến lúc giao sản phẩm cho khách hàng từ 5-6 tháng xuống còn 2 tháng. Kinh doanh dịch vụ này có tỷ suất lợi nhuận cao gấp 3-4 lần sản xuất và gấp từ 1-2 lần các dịch vụ ngoại thương khác. 

Dịch vụ logistics phát triển góp phần mở rộng thị trường trong buôn bán quốc tế. 

Sản xuất có mục đích là phục vụ tiêu dùng, cho nên trong sản xuất kinh doanh, vấn đề thị trường luôn là vấn đề quan trọng và luôn được các nhà sản xuất và kinh doanh quan tâm. Các nhà sản xuất kinh doanh muốn chiếm lĩnh và mở rộng thị trường cho sản phẩm của mình phải cần sự hỗ trợ của dịch vụ logistics. Dịch vụ logistics có tác dụng như chiếc cầu nối trong việc chuyển dịch hàng hóa trên các tuyến đường mới đến các thị trường mới đúng yêu cầu về thời gian và địa điểm đặt ra. Dịch vụ logistics phát triển có tác dụng rất lớn trong việc khai thác và mở rộng thị trường kinh doanh cho các doanh nghiệp. 

Dịch vụ logistics phát triển góp phần giảm chi phí, hoàn thiện và tiêu chuẩn hóa chứng từ trong kinh doanh quốc tế 

Thực tiễn, một giao dịch trong buôn bán quốc tế thường phải tiêu tốn các loại giấy tờ, chứng từ. Theo ước tính của Liên Hợp Quốc, chi phí về giấy tờ để phục vụ mọi mặt giao dịch thương mại trên thế giới hàng năm đã vượt quá 420 tỷ USD. Theo tính toán của các chuyên gia, riêng các loại giấy tờ, chứng từ rườm rà hàng năm khoản chi phí tiêu tốn cho nó cũng chiếm tới hơn 10% kim ngạch mậu dịch quốc tế, ảnh hưởng rất lớn tới các hoạt động buôn bán quốc tế. Logistics đã cung cấp các dịch vụ đa dạng trọn gói đã có tác dụng giảm rất nhiều các chi phí cho giấy tờ, chứng từ trong buôn bán quốc tế. Dịch vụ vận tải đa phương thức do người kinh doanh dịch vụ logistics cung cấp đã loại bỏ đi rất nhiều chi phí cho giấy tờ thủ tục, nâng cấp và chuẩn hóa chứng từ cũng như giảm khối lượng công việc văn phòng trong lưu thông hàng hóa, từ đó nâng cao hiệu quả buôn bán quốc tế.

Ngoài ra, cùng với việc phát triển logistics điện tử (electronic logistics) sẽ tạo ra cuộc cách mạng trong dịch vụ vận tải và logistics, chi phí cho giấy tờ, chứng từ trong lưu thông hàng hóa càng được giảm tới mức tối đa, chất lượng dịch vụ logistics ngày càng được nâng cao sẽ thu hẹp hơn nữa cản trở về mặt không gian và thời gian trong dòng lưu chuyển nguyên vật liệu và hàng hóa. Các quốc gia sẽ xích lại gần nhau hơn trong hoạt động sản xuất và lưu thông.

3. Phân loại dịch vụ logistics

3.1. Theo phân loại của WTO 

Dịch vụ logistics lõi (Core Logistics Service): Dịch vụ thiết yếu trong hoạt động logistics và cần phải tiến hành tự do hóa để thúc đẩy sự lưu chuyển dịch vụ bao gồm: dịch vụ làm hàng, dịch vụ lưu kho, dịch vụ đại lý vận tải và các dịch vụ hỗ trợ khác. 

Dịch vụ có liên quan tới vận tải: Các dịch vụ có liên quan tới cung cấp có hiệu quả dịch vụ logistics tích hợp cũng như cung cấp môi trường thuận lợi cho hoạt động của logistics bên thứ 3 phát triển gồm có vận tải hàng hóa (đường biển, đường thủy nội địa, hàng không, đường sắt, đường bộ và cho thuê phương tiện không có người vận hành) và các dịch vụ khác có liên quan tới dịch vụ logistics gồm dịch vụ phân tích và thử nghiệm kỹ thuật, dịch vụ chuyển phát, dịch vụ đại lý hoa hồng, dịch vụ bán buôn và bán lẻ. 

Dịch vụ thứ yếu hoặc mang tính bổ trợ (Non-core Logistics Service): Gồm dịch vụ máy tính và liên quan tới máy tính, dịch vụ đóng gói và dịch vụ tư vấn quản lý.

3.2. Theo quy định của Luật Thương mại 

Theo Luật Thương mại Việt Nam 2005, Điều 233 quy định các dịch vụ logistics cụ thể sau: 

Các dịch vụ logistics chủ yếu bao gồm: 

Dịch vụ bốc xếp hàng hóa, bao gồm cả hoạt động bốc xếp container. 

Dịch vụ kho bãi, lưu trữ hàng hóa bao gồm cả hoạt động kinh doanh kho bãi container và kho xử lý nguyên liệu, thiết bị.

Dịch vụ đại lý vận tải, bao gồm cả hoạt động đại lý làm thủ tục hải quan và lập kế hoạch bốc dỡ hàng hóa. 

Dịch vụ bổ trợ khác, bao gồm các hoạt động tiếp nhận, lưu kho và quản lý thông tin liên quan đến vận chuyển và lưu kho hàng hóa trong suốt cả chuỗi logistics; hoạt động xử lý lại hàng hóa, hàng hóa tồn kho, hàng bị trả lại, lỗi mốt và tái phân phối; hoạt động cho thuê và thuê mua container. 

Các dịch vụ logistics liên quan đến vận tải bao gồm: 

+ Dịch vụ vận tải hàng hải. 

+ Dịch vụ vận tải thủy nội địa. 

+ Dịch vụ vận tải hàng không. 

+ Dịch vụ vận tải đường sắt. 

+ Dịch vụ vận tải đường bộ. 

+ Dịch vụ vận tải đường ống.

Các dịch vụ logistics liên quan khác:

  • Dịch vụ kiểm tra, phân tích kỹ thuật. 
  • Dịch vụ bưu chính. 
  • Dịch vụ thương mại bán buôn. 
  • Dịch vụ bán lẻ bao gồm hoạt động quản lý hàng lưu kho, thu gom, tập hợp, phân loại, phân phối và giao hàng. 
  • Dịch vụ hỗ trợ vận tải khác. 

Các phân loại này phù hợp với Biểu cam kết về dịch vụ vận tải của Việt Nam với WTO nhưng chưa thể hiện được những loại hình dịch vụ hiện đại trong điều kiện hiện nay. 

3.3. Theo nội dung dịch vụ 

Nhóm dịch vụ thiết kế và hoạch định chiến lược logistics cho các doanh nghiệp (Designing/Planning): Cung cấp dịch vụ logistics tiến hành thiết kế kế hoạch cơ cấu lại dây chuyền cung ứng của khách hàng sao cho đạt kết quả tối ưu và phát huy tối đã các lợi thế trong cạnh tranh. Ở đây, các công ty cung cấp dịch vụ logistics sẽ dựa trên thực trạng tổ chức sản xuất của khách hàng để xây dựng một chuỗi cung ứng phù hợp, xây dựng qui trình sản xuất hợp lý, đảm bảo giảm tối đa thời gian, chi phí không cần thiết.

Nhóm dịch vụ logistics đầu vào (Inbound logistics): bao gồm 

Kitting: Quản lý công đoạn lựa chọn, đóng góp và chuyên chở các bộ phận linh kiện chưa lắp ráp tới dây chuyền sản xuất của doanh nghiệp. 

Quality control/ Quality assurance: Tiến hành kiểm tra chất lượng tại kho và loại bỏ các sản phẩm không đạt tiêu chuẩn chuyên chở ngược lại cho nhà sản xuất thay thế các linh kiện không đảm bảo chất lượng. 

Sequencing: Sắp xếp các bộ phận, vật tư cho một dây chuyền sản xuất theo thứ tự cụ thể để tiện sản xuất và đóng gói. 

Milk runs: Tối ưu hóa dòng vận chuyển hàng hóa bằng cách gom hàng và giao hàng cho nhiều khách hàng trong cùng một thời điểm. Thiết kế một lộ trình phức hợp với nhiều điểm bốc xếp, kết hợp nhiều đơn hàng từ nhiều khách hàng tại cùng một thời điểm. Mục đích là sử dụng tối đa năng lực chuyên chở của phương tiện và tiết kiệm chi phí vận tải. 

VIM (Vendor Inventory Management): Tiến hành gom hàng từ nhiều nhà cung cấp nhỏ lẻ những mặt hàng hay vật tư cần thiết cho quá trình sản xuất kinh doanh của khách hàng, lưu kho và phân phối tới cho khách hàng. 

Nhóm dịch vụ hỗ trợ sản xuất (Manufacturing Support): bao gồm: 

Sub – Assembly: Áp dụng đối với các ngành điện tử, ô tô, hàng tiêu dùng nhanh. Công ty logistics sẽ đảm nhận luôn công việc lắp ráp các bộ phận cơ bản của sản phẩm từ các linh kiện đơn lẻ. 

Inventory Planning: Lên kế hoạch và kiểm soát quá trình lưu kho với các hệ thống quản lý kho hiện đại nhất đảm bảo tối ưu lượng dự trữ và giảm thiểu chi phí. 

+ Packing/Labeling: Đóng gói và dán nhãn hàng hóa.

Nhóm dịch vụ logistics đầu ra (Outbound Logistics/Warehousing and Distribution): Với hệ thống kho hiện đại và quy mô lớn, các công ty logistics có thể đảm nhiệm lưu kho thành phẩm và phân phối tới tay người tiêu dùng với chi phí thấp. Ngoài ra theo yêu cầu của khách hàng, các công ty này còn cung cấp một số dịch vụ kho đặc biệt như: Contract warehousing (Kho thuê theo hợp đồng); Dedicated warehousing (Kho chuyên dụng); Multi-user warehousing (Kho công cộng); Bonded warehousing (Kho ngoại quan); Automated warehousing (Kho tự động); Cross-docking warehousing (kho đa năng). 

Nhóm dịch vụ GNVT và gom hàng liên quan đến toàn bộ dòng lưu chuyển của vật tư và hàng hóa: bao gồm:

Ocean/Air freight (vận tải đường biển, đường hàng không): Vận chuyển hàng nguyên container (FCL), hàng lẻ (LCL), hàng không. 

Dedicated contract carriage (chuyên chở hàng hóa theo hợp đồng chuyên dụng). 

Intermodal service (Vận tải đa phương thức). 

Merge – in – Transit: Áp dụng cho các công ty nhập bộ phận hoàn chỉnh từ nhiều nhà cung cấp, công ty logistics sẽ kết hợp đầu vào và đầu ra của dây chuyền cung ứng một cách ăn khớp và hiệu quả, tiến hành lắp ráp thành sản phẩm cuối cùng và giao trực tiếp cho khách hàng. 

Customer Service ( Dịch vụ khách hàng). 

Nhóm dịch vụ sau bán hàng (Aftermarket logistics): Các LSP có thể giúp khách hàng quản lý các yếu tố phát sinh sau giao dịch, bao gồm một số dịch vụ: 

Return Logistics: Quản lý quá trình thu hồi các hàng phế phẩm, tái chế hoặc hủy bỏ giúp khách hàng. 

Repair Logistics: Tiếp nhận và sửa chữa thành phẩm hoặc bộ phận. 

Revers Logistics: Thiết kế và quản lý dòng vật liệu hoặc thiết bị không sử dụng ngược trở lại dây chuyền cung ứng. 

Call Center: Tiếp nhận đơn hàng và đăng ký giao hàng giúp khách hàng

Dịch vụ logistics hàng đầu (Lead Logistics Provider): Thay mặt khách hàng quản lý toàn bộ chuỗi cung ứng hoặc khi cần thiết thuê lại dịch vụ của một số công ty logistics khác, khách hàng chỉ phải giao dịch với một nhà cung cấp dịch vụ duy nhất.

Categories
Main

Cơ sở lý luận về phát triển nguồn nhân lực trong doanh nghiệp

Nhanlamluanvan.com xin chia sẻ đến bạn nội dung cơ sở lý luận về phát triển nguồn nhân lực trong doanh nghiệp. Nếu bạn đang làm luận văn hoặc tiểu luận về chủ đề này, đừng bỏ qua bài viết này nhé.

Cơ sở lý luận về phát triển nguồn nhân lực trong doanh nghiệp

>>> Xem thêm: Hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh của doanh nghiệp

1. Khái niệm về phát triển nguồn nhân lực

Để tìm hiểu về khái niệm phát triển nguồn nhân lực thì trước tiên phải hiểu khái niệm nguồn nhân lực: 

Theo nghĩa tương đối hẹp, nguồn nhân lực được hiểu là nguồn lao động. Do vậy nó có thể lượng hóa được là một bộ phận của dân số bao gồm những người trong độ tuổi lao động, đủ từ 15 tuổi trở lên có khả năng lao động hay còn gọi là lực lượng lao động. 

Theo nghĩa rộng, nguồn nhân lực được hiểu như nguồn lực con người của một quốc gia, một vùng lãnh thổ, một bộ phận của các nguồn lực có khả năng huy động tổ chức để tham gia vào quá trình phát triển kinh tế – xã hội bên cạnh nguồn lực tài chính, nguồn lực vật chất. 

Ở góc độ doanh nghiệp thì nguồn nhân lực là lực lượng lao động, là tất cả các thành viên đang tham gia hoạt động cho doanh nghiệp, do doanh nghiệp trả lương. Chính vì vậy nguồn nhân lực được nghiên cứu trên góc độ số lượng và chất lượng. Trong đó: 

– Số lượng nguồn nhân lực được biểu hiện thông qua các chỉ tiêu quy mô, tốc độ tăng và sự phân bổ nguồn nhân lực. 

– Chất lượng nguồn nhân lực được nghiên cứu trên các khía cạnh về trí lực, thể lực và nhân cách, thẩm mỹ của người lao động. 

Tóm lại, nguồn lực con người là tổng thể tiềm năng của con người trong đó trí lực, thể lực và đạo đức là những yếu tố quan trọng quyết định chất lượng và sức mạnh của nguồn nhân lực. 

Cũng như khái niệm “nguồn nhân lực”, khái niệm “phát triển nguồn nhân lực” ngày càng được hoàn thiện và được tiếp cận theo những góc độ khác nhau. Đứng trên quan điểm xem “con người là nguồn gốc – vốn nhân lực”, Yoshihara Kunio cho rằng “Phát triển nguồn nhân lực là các hoạt động đầu tư nhằm tạo ra nguồn nhân lực với số lượng và chất lượng đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế – xã hội của đất nước, đồng thời đảm bảo sự phát triển của mỗi cá nhân”.

Theo quan điểm sử dụng năng lực con người của Tổ chức quốc tế về lao động thì phát triển nguồn nhân lực bao hàm không chỉ sự chiếm lĩnh trình độ lành nghề, mà bên cạnh phát triển năng lực, là làm cho con người có nhu cầu sử dụng năng lực đó để tiến đến có được việc làm hiệu quả cũng như thỏa mãn nghề nghiệp và cuộc sống cá nhân.

2. Đặc điểm của phát triển nguồn nhân lực trong doanh nghiệp

Thứ nhất, nguồn nhân lực trong doanh nghiệp là một bộ phận trong tổng thể nguồn nhân lực của một quốc gia, vùng lãnh thổ. Vì vậy phát triển nguồn nhân lực của doanh nghiệp phải đặt trong mối quan hệ biện chứng với sự phát triển nguồn nhân lực quốc gia, vùng lãnh thổ và chịu ảnh hưởng của chính sách, chiến lược phát triển nguồn nhân lực của quốc gia, vùng lãnh thổ.

Thứ hai, nguồn nhân lực của doanh nghiệp không phải chỉ là phép cộng giản đơn khả năng lao động riêng rẽ của từng con người mà nó phụ thuộc vào khả năng làm việc theo từng nhóm người trong tổ chức. Nghĩa là, phát triển nguồn nhân lực trong doanh nghiệp không chỉ nâng cao khả năng lao động của từng cá nhân, thể hiện ở chất lượng lao động, mà phải phát triển và hoàn thiện các yếu tố nâng cao khả năng làm việc theo nhóm giữa những con người đó như bố trí phù hợp công việc, sở trường, chế độ đãi ngộ phù hợp, môi trường làm việc được cải thiện… 

Thứ ba, phát triển nguồn nhân lực trong doanh nghiệp gắn liền với mục tiêu của doanh nghiệp và phải được hoạch định từ mục tiêu của doanh nghiệp. Vì vậy, phát triển nguồn nhân lực trong doanh nghiệp phải xuất phát từ mục tiêu, chiến lược của doanh nghiệp và hướng giải quyết mục tiêu đó. 

Thứ tư, nguồn nhân lực trong doanh nghiệp là một nguồn lực bên cạnh các nguồn lực khác là vốn, công nghệ… nhưng khác với các nguồn lực khác về tính chất và vai trò của nó đối với doanh nghiệp đó là nó mang bản chất con người nên chịu sự chi phối của các yếu tố tâm sinh lý, quá trình sử dụng nó sẽ tạo ra giá trị lớn hơn giá trị bản thân nó, đồng thời nó đóng vai trò quyết định trong việc sử dụng có hiệu quả các nguồn lực khác của doanh nghiệp. 

Thứ năm, nếu như quản trị nguồn nhân lực có mục tiêu là tối ưu hóa kết quả của doanh nghiệp và cá nhân người lao động, đó là hiệu quả kinh tế cao đối với doanh nghiệp và thoả mãn nhu cầu của người lao động ngày càng tốt hơn, thì phát triển nguồn nhân lực là phát triển năng lực nhân lực, nâng cao khả năng lao động mà doanh nghiệp có thể huy động được để hoàn thành các nhiệm vụ và mục tiêu của doanh nghiệp. Điều này có nghĩa là, phát triển nguồn nhân lực chính là điều kiện cần và quản trị nguồn nhân lực là điều kiện đủ để có được nguồn lực lao động và sử dụng chúng có hiệu quả để đạt được mục tiêu mà doanh nghiệp đã đặt ra. 

3. Các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển nguồn nhân lực trong doanh nghiệp

3.1. Các nhân tố bên ngoài doanh nghiệp

Môi trường vĩ mô bao gồm các nhân tố nằm bên ngoài doanh nghiệp, tạo ra các cơ hội và nguy cơ đối với doanh nghiệp. Đối với phát triển nguồn nhân lực trong doanh nghiệp, các nhân tố chủ yếu là môi trường kinh tế; pháp luật về lao động và thị trường lao động; khoa học công nghệ và các nhân tố văn hoá, xã hội của quốc gia. 

Môi trường kinh tế bao gồm các nhân tố như tốc độ tăng trưởng kinh tế, suy thoái hay lạm phát, thu nhập, mức sống, tốc độ đầu tư, dân số… có ảnh hưởng trực tiếp đến nhu cầu nhân lực và chính sách của doanh nghiệp đối với nguồn nhân lực. Điều này sẽ tạo cơ hội hoặc áp lực cho công tác phát triển nguồn nhân lực của doanh nghiệp. 

Pháp luật về lao động và thị trường lao động tác động đến cơ chế và chính sách trả lương của doanh nghiệp, dẫn đến sự thay đổi về mức độ thu hút nguồn nhân lực của các doanh nghiệp. Chính vì vậy, phát triển nguồn nhân lực tại doanh nghiệp phải được thực hiện phù hợp với pháp luật về lao động và thị trường lao động. 

Khoa học công nghệ phát triển làm xuất hiện những ngành nghề mới, đòi hỏi nhân viên phải được cập nhật kiến thức và những kỹ năng mới, làm phát sinh nhu cầu đào tạo lại, bố trí, sắp xếp nhân lực phù hợp với tình hình mới. Do đó, phát triển NNL trong doanh nghiệp càng trở nên bức bách hơn, cần phải có kế hoạch và chiến lược cụ thể nhằm giải quyết triệt để các yêu cầu khách quan của tình hình mới.

Các nhân tố văn hoá, xã hội của quốc gia có tác động lớn đến tâm lý, hành vi, phong cách, lối sống và sự thay đổi trong cách nhìn nhận về các giá trị của người lao động. Và như vậy, nó ảnh hưởng đến cách tư duy và các chính sách phát triển nguồn nhân lực nhằm phát huy cao độ những nhân tố tích cực, đồng thời khắc phục những mặt tiêu cực trong tác phong lao động của nguồn nhân lực tại doanh nghiệp. 

Điều kiện tự nhiên, nhân tố này ảnh hưởng đến thể hình, thể chất và thể lực của nguồn nhân lực. Người dân Châu Á mà đặc biệt là các nước Đông Nam Á, trong đó có Việt Nam đa số có thể hình và thể lực kém phát triển so với các khu vực khác trên thế giới. Trong điều kiện đặc điểm của ngành môi trường đòi hỏi nguồn nhân lực phải đáp ứng tốt về mặt thể lực, thì trong các nội dung phát triển nguồn nhân lực cần chú trọng hơn nữa các biện pháp nâng cao thể hình và thể lực của nguồn nhân lực.

Các nhân tố thuộc môi trường vi mô như: Khả năng cung ứng nhân lực của các cơ sở đào tạo, việc cạnh tranh thu hút nhân lực của doanh nghiệp trong cùng ngành. Khả năng cung ứng của các cơ sở đào tạo là một trong những nguồn cung cấp lao động rất quan trọng cho các doanh nghiệp, khả năng này cao hay thấp trực tiếp ảnh hưởng đến mức độ dư thừa hay khan hiếm nguồn nhân lực trong các thời kỳ khác nhau. Ngoài ra, chất lượng của các cơ sở đào tạo cũng phải được xem xét kỹ lưỡng vì nó sẽ quyết định chất lượng nguồn nhân lực của doanh nghiệp trong tương lai. 

Cạnh tranh thu hút nhân lực của doanh nghiệp trong cùng ngành tác động mạnh đến số lượng và chất lượng nguồn nhân lực của mỗi doanh nghiệp. Nó tạo ra sự di chuyển nguồn nhân lực từ doanh nghiệp này đến doanh nghiệp khác, đặc biệt là nguồn nhân lực chất lượng cao. Bởi lẽ, các yêu cầu về nguồn nhân lực của các doanh nghiệp trong cùng ngành luôn có sự tương đồng. 

Khách hàng là mục tiêu của mọi doanh nghiệp. Duy trì được những khách hàng tiềm năng sẽ giúp cho các doanh nghiệp đảm bảo được sự ổn định và phát triển của họ. Chất lượng và giá cả của sản phẩm sẽ đảm bảo được vị trí của doanh nghiệp trong thị trường. Tóm lại khách hàng là trọng tâm của mọi hoạt động sản xuất kinh doanh và các nhà quản trị doanh nghiệp phải làm sao cho chất lượng nguồn nhân lực của mình tạo ra được những sản phẩm luôn thỏa mãn được yêu cầu của khách hàng.

3.2. Các nhân tố bên trong doanh nghiệp

Chính sách thu hút nguồn nhân lực: 

Chính sách thu hút nguồn nhân lực thể hiện quan điểm về mục đích, yêu cầu, đối tượng và cách thức tuyển chọn lao động của doanh nghiệp nhằm đảm bảo cho doanh nghiệp có đủ số lượng và chất lượng nguồn nhân lực với cơ cấu phù hợp để thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ của mình trong giai đoạn hiện tại hay tương lai. 

Một doanh nghiệp có chính sách thu hút nguồn nhân lực phù hợp và hấp dẫn, xuất phát từ việc hoạch định nguồn nhân lực chính xác và khoa học, sẽ thu hút được nhiều người đảm bảo chất lượng hơn, tức là nhân lực có chất lượng ban đầu cao hơn. Điều này góp phần tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển nguồn nhân lực tại doanh nghiệp. Bên cạnh đó, nó cũng ảnh hưởng trực tiếp đến các yêu cầu và cách thức phát triển nguồn nhân lực của doanh nghiệp. 

Chế độ bố trí, sử dụng nguồn nhân lực: 

Chế độ bố trí, sử dụng nguồn nhân lực là một trong những nhân tố quan trọng tác động đến phát triển nguồn nhân lực trong doanh nghiệp. 

Phân công đúng người, đúng việc, đánh giá đúng tính chất và mức độ tham gia, đóng góp của từng người lao động để khích lệ, đãi ngộ họ kịp thời sẽ mang lại mức độ sinh lợi cao của hoạt động chung và tạo ra sự động viên to lớn đối với người lao động. 

Khi doanh nghiệp có cách sử dụng nhân lực như vậy thì người lao động không chỉ thể hiện, cống hiến tối đa những phẩm chất lao động sẵn có mà còn tự đầu tư, tự tổ chức học tập không ngừng nâng cao trình độ chuyên môn của mình. Nó tạo động lực vững chắc cho phát triển nguồn nhân lực trong doanh nghiệp. 

Chính sách đào tạo và đào tạo lại:

Chính sách đào tạo và đào tạo lại là vấn đề cốt lõi có tác động trực tiếp và mạnh mẽ đến phát triển nguồn nhân lực tại doanh nghiệp dưới góc độ nâng cao chất lượng nguồn nhân lực một cách toàn điện. Nó giúp người lao động hiểu rõ hơn về công việc, nắm vững hơn về nghề nghiệp từ đó thực hiện chức năng nhiệm vụ của mình một cách tự giác hơn, với thái độ tốt hơn, cũng như nâng cao khả năng thích ứng của họ với các công việc tương lai trong bối cảnh khoa học công nghệ phát triển nhanh hơn bao giờ hết. Đây chính là nền tảng để phát triển nguồn nhân lực trong doanh nghiệp. 

Chế độ đào tạo và đào tạo lại cần phải được thực hiện một cách khoa học, có tổ chức và có kế hoạch. Nhất thiết phải chọn đúng người, đúng nội dung, đúng phương pháp đào tạo, đúng phương pháp đánh giá hiệu quả đào tạo và phải đầu tư kinh phí hợp lý thì mới thật sự phát huy tác dụng. Từ đó người lao động có động cơ học tập đúng đắn và mạnh mẽ, thúc đẩy họ thật sự học tập để nâng cao trình độ. Như vậy, chất lượng nhân lực của doanh nghiệp được nâng cao theo thời gian. 

Chế độ đãi ngộ:

Các chế độ đãi ngộ về vật chất và tinh thần đối với người lao động là một trong những nhân tố để duy trì và phát triển nguồn nhân lực trong doanh nghiệp. Nó có ảnh hưởng rất lớn đến sự lựa chọn công việc, tình hình thực hiện công việc, chất lượng sản phẩm, hiệu quả hoạt động của nguồn nhân lực trong doanh nghiệp. 

Khi xây dựng các chế độ đãi ngộ cần xem xét đồng thời các mục tiêu sau: 

– Hệ thống đãi ngộ phải hợp pháp; thỏa đáng, công bằng và phải có tác dụng kích thích người lao động hoàn thành công việc có hiệu quả cao. 

– Hệ thống đãi ngộ phải bảo đảm hiệu quả: đòi hỏi doanh nghiệp phải quản lý hệ thống đãi ngộ một cách hiệu quả và phải có những nguồn tài chính để hỗ trợ cho hệ thống đó được thực hiện trong thời gian dài, xuyên suốt, ngày một tốt hơn. 

Môi trường làm việc:

Môi trường làm việc là nhân tố quan trọng để doanh nghiệp có điều kiện thuận lợi hơn trong việc thu hút nguồn nhân lực cho mình, đặc biệt là nguồn nhân lực có chất lượng cao. Một môi trường làm việc chuyên nghiệp, thân thiện, mọi người đều yêu thích công việc, nhìn thấy sự phát triển nghề nghiệp trong tương lai thì sẽ gắn bó được nhân viên, là cơ hội rất tốt để nhân viên khẳng định và phát triển tối đa năng lực làm việc, học tập nâng cao trình độ của mình phục vụ thiết thực cho các yêu cầu của doanh nghiệp. 

Văn hóa doanh nghiệp là toàn bộ các giá trị văn hóa được xây dựng trong suốt quá trình tồn tại và phát triển doanh nghiệp, trở thành các giá trị, các quan niệm và tập quán, truyền thống ăn sâu vào hoạt động của doanh nghiệp; chi phối tình cảm, suy nghĩ và hành vi của mỗi thành viên trong doanh nghiệp; tạo nên sự khác biệt giữa các doanh nghiệp và được coi là truyền thống riêng của mỗi doanh nghiệp. Chính những nhân tố khác biệt và truyền thống riêng của văn hóa doanh nghiệp sẽ là động lực thúc đẩy sự thành công của mỗi doanh nghiệp. 

Tài chính:

Như chúng ta đã nghiên cứu, tài chính là một trong những nhân tố cơ bản nhất cho sự tồn tại và phát triển của một doanh nghiệp. Nó là điều kiện tiên quyết để đảm bảo cho việc thực thi các hoạt động phát triển nguồn nhân lực trong doanh nghiệp. Thật vậy, cho dù doanh nghiệp đã xây dựng được những kế hoạch đào tạo, chế độ đãi ngộ…thật hấp dẫn, thuyết phục nhưng thiếu vắng nguồn lực tài chính thì chúng vẫn dừng lại trong ý tưởng mà thôi. Chính vì vậy, phát triển nguồn nhân lực trong doanh nghiệp cần phải được xem xét phù hợp với năng lực tài chính của doanh nghiệp ấy. 

Công nghệ:

Trình độ công nghệ hiện tại và trong tương lai của doanh nghiệp cũng là nhân tố ảnh hưởng trực tiếp đến phát triển nguồn nhân lực trong doanh nghiệp. Nó đặt ra những yêu cầu cần phải được đảm bảo về số lượng và chất lượng của nguồn nhân lực trong doanh nghiệp. Nghĩa là, công nghệ như thế nào thì người lao động phải có trình độ chuyên môn, kỹ năng và tác phong lao động tương ứng với nó. Như vậy, phát triển nguồn nhân lực phải phù hợp với công nghệ sản xuất đang được áp dụng và những dự kiến thay đổi công nghệ trong tương lai của doanh nghiệp.

Categories
Main

Những vấn đề chung về tranh chấp đất đai và giải quyết tranh chấp đất đai

Trong bài viết này, nhanlamluanvan.com xin chia sẻ đến bạn những vấn đề chung về tranh chấp đất đai và giải quyết tranh chấp đất đai.

Những vấn đề chung về tranh chấp đất đai và giải quyết tranh chấp đất đai

>>> Xem thêm: Những vấn đề lý luận về hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất

1. Tranh chấp đất đai

1.1. Khái niệm

Tranh chấp đất đai, hiểu theo nghĩa rộng là biểu hiện sự mâu thuẫn, bất đồng trong việc xác định quyền quản lý, quyền chiếm hữu, quyền sử dụng đối với đất đai, phát sinh trực tiếp hoặc gián tiếp trong lĩnh vực quản lý và sử dụng đất đai.  

Theo nghĩa hẹp, tranh chấp đất đai là tranh chấp phát sinh giữa các chủ thể tham gia quan hệ pháp luật đất đai về quyền và nghĩa vụ trong quá trình quản lý và sử dụng đất đai [43, tr. 245]. 

Trong thực tế, tranh chấp đất đai được hiểu là sự tranh chấp về quyền quản lý, quyền sử dụng xung quanh một khu đất cụ thể mà mỗi bên đều cho rằng mình phải được quyền đó do pháp luật quy định và bảo hộ. Vì vậy, họ không thể cùng nhau tự giải quyết các tranh chấp đó mà phải yêu cầu cơ quan có thẩm quyền phân xử (giải quyết).

1.2. Phân loại 

– Tranh chấp hợp đồng chuyển đổi quyền sử dụng đất: 

Dạng tranh chấp này thường xảy ra ở vùng nông thôn, việc phát sinh thường là do lúc chuyển đổi đất đai hai bên không làm hợp đồng hoặc hợp đồng có được soạn thảo nhưng nội dung rất sơ sài, đơn giản. Vì thế, sau một thời gian một bên cảm thấy quyền lợi bị thiệt thòi nên phát sinh tranh chấp, mặc dù vào thời điểm chuyển đổi hai bên đều đã nhất trí về các điều kiện để chuyển đổi quyền sử dụng đất. 

– Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất: 

Dạng tranh chấp này xảy ra khá phổ biến, việc phát sinh thường là do một bên hoặc cả hai bên thực hiện không đúng giao kết như không trả tiền hoặc không giao đất, cũng có trường hợp do bị lừa dối hoặc sau khi ký kết hợp đồng thấy bị hớ trong điều khoản thỏa thuận về giá cả nên rút lại không thực hiện hợp đồng. Nhiều trường hợp nội dung hợp đồng không đề cập rõ ràng về mục đích của hợp đồng, không xác định cụ thể bên bán hay bên mua có nghĩa đóng thuế chuyển quyền sử dụng đất, làm thủ tục… đây cũng là nguyên nhân dẫn đến tranh chấp. 

– Tranh chấp hợp đồng cho thuê quyền sử dụng đất: 

Việc phát sinh dạng tranh chấp này là do một bên hoặc cả hai bên vi phạm các điều khoản của hợp đồng như: 

  • Hết thời hạn thuê đất nhưng không chịu trả lại đất cho bên cho thuê; 
  • Không trả tiền thuê đất; 
  • Sử dụng đất không đúng mục đích khi thuê; 
  • Đòi lại đất trước thời hạn hợp đồng. 

– Tranh chấp hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất: 

Dạng tranh chấp này thường phát sinh sau khi thời hạn thực hiện nghĩa vụ đã hết, nhưng bên vay đã không thực hiện nghĩa vụ trả nợ đã cam kết. 

– Tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất: 

Dạng tranh chấp này thường xảy ra do các nguyên nhân chủ yếu sau: 

Người có quyền sử dụng đất chết không để lại di chúc và những người thừa kế theo pháp luật không thỏa thuận được với nhau về việc phân chia di sản thừa kế hoặc không hiểu biết về các quy định của pháp luật thừa kế, nên dẫn đến việc phát sinh tranh chấp. 

Người sử dụng đất trước khi chết có lập di chúc để lại thừa kế quyền sử dụng đất nhưng di chúc đó trái pháp luật. 

– Tranh chấp do lấn, chiếm đất: 

Loại tranh chấp này xảy ra do một hoặc cả hai bên đã chiếm dụng đất của nhau. Có trường hợp trước đây khi thi hành chính sách cải tạo nông nghiệp, Nhà nước đã giao đất cho người khác sử dụng, nay chủ cũ tự động chiếm lại đất canh tác và dẫn đến tranh chấp. 

– Tranh chấp về cản trở việc thực hiện quyền sử dụng đất:

Loại tranh chấp này tuy số lượng tranh chấp phát sinh ít nhưng tính chất lại rất phức tạp. Thông thường, do mâu thuẫn phát sinh, bên sử dụng đất ở gần lối đi công cộng có vị trí đất ở sâu hoặc xa mặt tiền và một bên do có thành kiến cá nhân đã cản trở người sử dụng đất bên trong việc thực hiện quyền sử dụng đất như không cho đi qua phần đất của mình, rào lại lối đi chung v.v… do đó dẫn đến tranh chấp. 

Ngoài ra, còn tồn tại một số dạng tranh chấp đất đai cụ thể trên thực tế như: 

  • Tranh chấp về việc làm thiệt hại đến việc sử dụng đất; 
  • Tranh chấp quyền sử dụng đất; 
  • Tranh chấp tài sản gắn liền với đất; 
  • Tranh chấp đất trong vụ án ly hôn.

1.3. Đặc điểm

Quan hệ đất đai là một dạng đặc biệt của quan hệ dân sự nên bên cạnh những đặc điểm chung của một tranh chấp dân sự, tranh chấp đất đai còn mang những đặc điểm đặc trưng riêng khác với các tranh chấp dân sự, tranh chấp lao động, tranh chấp kinh tế… Sự khác biệt đó thể hiện ở những điểm chủ yếu sau đây: 

Thứ nhất, chủ thể của tranh chấp đất đai chỉ có thể là chủ thể của quyền quản lý và quyền sử dụng đất mà không phải là chủ thể của quyền sở hữu đất đai. Quyền sử dụng đất của các chủ thể được xác lập dựa trên quyết định giao đất, cho thuê đất của Nhà nước hoặc được Nhà nước cho phép nhận chuyển nhượng từ các chủ thể khác hoặc được Nhà nước thừa nhận quyền sử dụng đất hợp pháp đối với diện tích đất đang sử dụng. Như vậy, chủ thể của tranh chấp đất đai là các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân tham gia với tư cách là người quản lý hoặc người sử dụng đất. 

Thứ hai, nội dung của tranh chấp đất đai rất đa dạng và phức tạp. Hoạt động quản lý và sử dụng đất trong nền kinh tế thị trường diễn ra rất đa dạng, phong phú với việc sử dụng đất vào nhiều mục đích khác nhau, với diện tích, nhu cầu sử dụng khác nhau. Trong nền kinh tế thị trường, việc quản lý và sử dụng đất không đơn thuần chỉ là việc quản lý và sử dụng một tư liệu sản xuất. Đất đai đã trở thành một loại hàng hóa đặc biệt, có giá trị thương mại, giá đất lại biến động theo quy luật cung cầu trên thị trường, nên việc quản lý và sử dụng nó không đơn thuần chỉ là việc khai thác giá trị sử dụng mà còn bao gồm cả giá trị sinh lời của đất (thông qua các hành vi kinh doanh quyền sử dụng đất). Tất nhiên, khi nội dung quản lý và sử dụng đất phong phú và phức tạp hơn thì những mâu thuẫn, bất đồng xung quanh việc quản lý và sử dụng đất đai cũng trở nên gay gắt và trầm trọng hơn. 

Thứ ba, tranh chấp đất đai phát sinh gây hậu quả xấu về nhiều mặt như: Có thể gây mất ổn định về chính trị, phá vỡ mối quan hệ xã hội, làm mất đoàn kết trong nội bộ nhân dân, phá vỡ trật tự quản lý đất đai, gây đình trệ sản xuất, ảnh hưởng trực tiếp đến lợi ích không những của bản thân các bên tranh chấp mà còn gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước và xã hội. 

Thứ tư, đối tượng của tranh chấp đất đai là quyền quản lý và quyền sử dụng đất. Đất đai là loại tài sản đặc biệt không thuộc quyền sở hữu của các bên tranh chấp mà thuộc quyền sở hữu của Nhà nước.

2. Giải quyết tranh chấp đất đai

2.1. Khái niệm giải quyết tranh chấp đất đai

Theo Từ điển giải thích thuật ngữ luật học: “Giải quyết tranh chấp đất đai là giải quyết bất đồng, mâu thuẫn trong nội bộ nhân dân, tổ chức và trên cơ sở đó phục hồi các quyền lợi hợp pháp bị xâm hại đồng thời truy cứu trách nhiệm pháp lý đối với hành vi vi phạm pháp luật về đất đai” [42]. 

Trong quan hệ pháp luật đất đai, việc xem xét giải quyết tranh chấp đất đai là một trong những biện pháp quan trọng để pháp luật đất đai phát huy được vai trò trong đời sống xã hội. Thông qua việc giải quyết tranh chấp đất đai, Nhà nước điều chỉnh các quan hệ đất đai cho phù hợp với lợi ích của Nhà nước và của xã hội. Đồng thời, giáo dục ý thức tuân thủ và tôn trọng pháp luật cho mọi công dân, ngăn ngừa những vi phạm pháp luật có thể xảy ra. 

Giải quyết tranh chấp đất đai, với ý nghĩa là một nội dung của chế độ quản lý nhà nước đối với đất đai, được hiểu là hoạt động của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền, nhằm tìm ra các giải pháp đúng đắn trên cơ sở pháp luật, nhằm giải quyết các bất đồng, mâu thuẫn giữa các bên, khôi phục lại quyền lợi cho bên bị xâm hại. Đồng thời xử lý đối với các hành vi vi phạm pháp luật đất đai.

Như vậy, giải quyết tranh chấp đất đai là việc vận dụng đúng đắn các quy định của pháp luật để bảo vệ tốt nhất các quyền và lợi ích hợp pháp của người sử dụng đất.

2.2. Các nguyên tắc giải quyết tranh chấp đất đai

2.2.1. Nguyên tắc đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước thống nhất quản lý 

Điều 17 Hiến pháp 1992 khẳng định: “Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước thống nhất quản lý”. Cụ thể hóa Hiến pháp 1992, Luật Đất đai 2003 đã quy định: “Nhà nước không thừa nhận việc đòi lại đất đã giao cho người khác sử dụng trong quá trình thực hiện các chính sách đất đai của Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam và Nhà nước Cộng hòa xã hội Chủ nghĩa Việt Nam”. Điều đó khẳng định toàn bộ đất đai trên lãnh thổ Việt Nam đều thuộc quyền sở hữu toàn dân do Nhà nước thống nhất quản lý. Các tổ chức, hộ gia đình và cá nhân chỉ là những người được Nhà nước giao đất cho sử dụng chứ không có quyền sở hữu đối với đất đai. Do đó, đối tượng của mọi tranh chấp đất đai phát sinh chỉ là quyền quản lý và quyền sử dụng đất chứ không phải là quyền sở hữu đối với đất đai. Vì vậy, khi giải quyết các tranh chấp đất đai, phải tôn trọng và bảo vệ quyền sở hữu toàn dân đối với đất đai mà Nhà nước là người đại diện; bảo vệ quyền đại diện sở hữu đất đai của Nhà nước; bảo vệ thành quả cách mạng về đất đai mà nhân dân ta đã giành được. 

2.2.2. Nguyên tắc bảo đảm lợi ích của người sử dụng đất, nhất là lợi ích kinh tế, khuyến khích việc tự thương lượng, tự hòa giải trong nội bộ nhân dân 

Luật Đất đai 1993 ra đời với việc thừa nhận năm quyền năng của người sử dụng đất (quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, thừa kế, thế chấp quyền sử dụng đất) đã khẳng định tư tưởng đổi mới trong quá trình Nhà nước điều hành các quan hệ xã hội về đất đai. Do đó, việc tôn trọng các quyền của người sử dụng đất và tạo điều kiện để họ phát huy tối đa các quyền đó là nguyên tắc quan trọng của Luật Đất đai. Thực tế đã chứng minh rằng, nếu lợi ích của người sử dụng đất không được đảm bảo, thì việc sử dụng đất không thể mang lại hiệu quả kinh tế cao. Đó cũng chính là nguyên tắc cơ bản trong quá trình giải quyết các tranh chấp đất đai.

Tôn trọng quyền định đoạt của các chủ thể khi tham gia các quan hệ pháp luật đất đai là tôn trọng quyền tự do thỏa thuận, thương lượng của họ trên cơ sở các quy định của pháp luật. Do vậy, hòa giải trở thành cách thức và cũng là nguyên tắc giải quyết tranh chấp đất đai quan trọng và đạt hiệu quả nhất. 

2.2.3. Nguyên tắc giải quyết tranh chấp đất đai phải nhằm mục đích ổn định tình hình chính trị, kinh tế, xã hội, gắn việc giải quyết tranh chấp đất đai với việc tổ chức lại sản xuất, bố trí lại cơ cấu sản xuất hàng hóa 

Do ảnh hưởng tiêu cực của tranh chấp đất đai đến mọi mặt của đời sống chính trị, kinh tế, xã hội nên việc giải quyết các tranh chấp đất đai phải nhằm vào mục đích bình ổn các quan hệ xã hội. Chú ý đảm bảo quá trình sản xuất của người dân, tránh làm ảnh hưởng dây chuyền đến cơ cấu sản xuất chung. Đồng thời cải thiện và bố trí, sắp xếp lại cơ cấu sản xuất hàng hóa theo chủ trương của Đảng: “Ai giỏi nghề gì, làm nghề ấy”. 

2.2.4. Nguyên tắc đảm bảo pháp chế xã hội chủ nghĩa 

Khi giải quyết tranh chấp đất đai phải chú ý và tuân thủ các nguyên tắc, trình tự, thủ tục, thẩm quyền mà pháp luật đã quy định. Phát hiện và giải quyết kịp thời các phạm pháp luật về đất đai, tránh tình trạng để tranh chấp đất đai kéo dài, làm ảnh hưởng tới tâm lý và lợi ích của người dân.

Categories
Main

Tổng hợp các phương pháp định giá doanh nghiệp

Trong bài viết này, nhanlamluanvan.com xin chia sẻ đến bạn các phương pháp định giá doanh nghiệp.

Các phương pháp định giá doanh nghiệp

>>> Xem thêm: Một số lý luận về du lịch sinh thái

Hiện nay, trên thế giới có rất nhiều phương pháp định giá được áp dụng. Dựa trên những cơ sở khác nhau mà người ta đưa ra những phương pháp khác nhau. Căn cứ vào đó, các phương pháp định giá có thể được chia thành 2 nhóm: nhóm phương pháp định giá doanh nghiệp dựa trên cơ sở lợi nhuận và nhóm phương pháp định giá doanh nghiệp dựa trên cơ sở thị trường.

1. Nhóm phương pháp định giá doanh nghiệp dựa trên cơ sở lợi nhuận

Nhóm phương pháp định giá này dựa trên quan điểm cho rằng giá trị doanh nghiệp không đơn thuần là tổng số giá trị các tài sồn hiện có của doanh nghiệp mà nó là tổng hợp các giá trị kinh tế được đo bằng khả năng sinh lợi của doanh nghiệp trong tương lai vì lợi nhuận luôn là mục tiêu quan trọng đối với doanh nghiệp cũng như với các nhà đầu tư. 

Nhóm phương pháp này gồm 3 phương pháp : 

• Phương pháp chiết khấu dòng tiền 

• Phương pháp chiết khấu luồng cổ tức 

• Phương pháp hệ số giá trên thu nhập ròng của cổ phiếu

1.1. Phương pháp chiết khấu dòng tiền

Nội dung:

Phương pháp DCF dựa trên nguyên lý cơ bồn của tài chính: Giá trị thời gian của tiền tệ. Theo đó, giá trị doanh nghiệp được xác định bằng cách hiện tại hóa các luồng tiền doanh nghiệp dự kiến thu được trong tương lai theo một tỷ lệ chiết khấu tương ứng với mức độ rủi ro của doanh nghiệp. 

Do vậy, trong phương pháp DCF có ba thông số cơ bản nhất cần được xác định, đó là luồng thu nhập công ty sẽ thu về trong tương lai, mức lãi suất chiết khấu luồng thu nhập đó và thời hạn tồn tại dự tính của DN. Đề tính toán được ba thông số cơ bản này cần thực hiện theo một quy trình gồm năm bước. 

Bước 1:  Phân tích ảnh hình hoạt động của doanh nghiệp trong quá khứ

Bước 2: Ước tính ánh hình hoạt động của doanh nghiệp trong tương lai

Bước 3: Xác định tỷ lệ chiết khấu WACC

Bước 4: Ước lượng giá trị liên tục (CV)

Bước 5: Tính toán kết quả và phân tích

Ưu, nhược điểm

• Ưu điểm : 

– DCF phản ánh chính xác hem thu nhập của doanh nghiệp trong tương lai vì DCF sử dụng thông số FCF được xây dựng dựa trên những số liệu có sẵn trong quá khứ và những giả định tương đối có cơ sở. Thêm vào đó, giá trị DCF được điều chỉnh theo mức độ rủi ro thích hợp. 

– Phương pháp DCF có thể áp dụng cho hầu hết các loại hình doanh nghiệp từ doanh nghiệp với tốc độ tăng trưởng rất thấp cho đến doanh nghiệp đa quốc gia có tốc độ tăng trưởng ổn định. 

– Việc áp dụng phương pháp này cũng sẽ giải quyết được một phớn các vướng mắc trong việc xác định lợi thế thương mại của doanh nghiệp, tạo độ chính xác của giá trị doanh nghiệp, đặc biệt là những đơn vị đang làm ăn có lãi, có thương hiệu và thị phần trên thị trường 

Hạn chế:

– Dòng tiền dự đoán của doanh nghiệp trong tương lai không phải lúc nào cũng chính xác vì dự đoán tương lai luôn là một điều khó khăn. 

– Việc xác định tỷ lệ chiết khấu WACC không phải lúc nào cũng dễ dàng (vi dụ như doanh nghiệp mà cổ phiếu của nó không được giao dịch phổ biến trên thị trường thì việc xác định chi phí vốn chủ sở hữu có thể rất khó khăn). 

Đối tượng áp dụng:

Thường được áp dụng rộng rãi đối với những doanh nghiệp có căn cứ đề ước tính được tỉnh hình hoạt động trong tương lai, các công ty đang hoạt động có hiệu quả và khả năng phát triển trong tương lai, đặc biệt là các đơn vị đang hoạt động trong lĩnh vực dịch vụ, bảo hiểm…

1.2. Phương pháp chiết khấu luồng cổ tức

Nội dung:

DDM là phương pháp định giá vốn cổ phần trên cơ sở chiết khấu luồng cổ tức thu được trong tương lai về hiện tại với một tỷ lệ thích hợp tương ứng với mức rủi ro của cổ phiếu đó. 

Ưu, nhược điểm:

Ưu điểm: 

Đơn giản và nhanh chóng hơn phương pháp DCF do chỉ cần dự tính tỉ lệ cổ tức và tốc độ tăng trưởng thay vì ước tính toàn bộ dòng tiền. 

• Hạn chế : 

Già định mà mô hình trên đưa ra không phải lúc nào cũng đúng vì trong thực tế hiếm có doanh nghiệp nào cổ tức lại tăng trưởng với một tỷ lệ nhất định cho đến mãi mãi. 

Đối tượng áp dụng:

Phương pháp này thường được sử dụng để định giá vốn chủ sở hữu của các doanh nghiệp thanh toán cổ tức tương ứng cố định và được mong đợi là không yêu cầu có sự thay đổi quan trọng nào về vốn hóa trong tương lai. Đối với những doanh nghiệp không chi trả cổ tức thì cũng không nên áp dụng mô hình này. 

1.3. Phương pháp hệ số giá thị trường trên thu nhập

Nội dung:

Đây là phương pháp định giá dựa trên khả năng sinh lời của doanh nghiệp và tính toán theo tỷ số giá thị hường trên thu nhập.

Công thức tính: V = Pg*K 

V : Giá trị doanh nghiệp 

Pg : Lợi nhuận có thể giữ lại 

K : Tỷ số giá thị trường trên thu nhập

Ưu, nhược điểm:

Ưu điểm :Đơn giản, dễ tính toán, là phương pháp được sử dụng rộng rãi trong định giá. 

• Hạn chế : Định giá bằng phương pháp này có độ chính xác thấp nhất do: 

– Có thể có rất nhiều những công ty tương tự được niêm yết nên việc chọn lựa một số trong số các công ty này để làm công ty so sánh chủ yếu dựa trên chủ quan của người định giá. Việc thêm vào hay bớt ra số lượng công ty so sánh có thể làm thay đổi đáng kể giá trị của bội số và do đó ảnh hưởng đến giá trị của doanh nghiệp. 

– Mặt khác, nếu thị trường đang đánh giá quá cao tất cả các doanh nghiệp sản xuất trong cùng một ngành dẫn đến tỷ số giá trên thu nhập trung bình của ngành được đánh giá quá cao và do đó việc định giá theo bội số giá trên thu nhập sẽ đánh giá quá cao giá trị của doanh nghiệp. 

Đối tượng áp dụng:

Thường áp dụng đối với các doanh nghiệp đã niêm yết trên thị trường chứng khoán vì có thể dễ dàng xác định được tỷ số P/E của các doanh nghiệp này. 

2. Nhóm phương pháp định giá doanh nghiệp dựa trên cơ sở thị trường

2.1. Phương pháp so sánh

Phương pháp này mang đầy đủ ý nghĩa của việc so sánh dựa trên cơ sở thị trường. Trên cơ sở phân tích số liệu sẵn có của các doanh nghiệp tương tự hoặc nếu không có doanh nghiệp tương tự thì nên sử dụng số liệu trung bình ngành và có sự điều chỉnh thích hợp rồi sau đó áp dụng cho doanh nghiệp cần định giá. Thông thường người ta hay so sánh các tỷ suất hoạt động.

Định giá bằng phương pháp này ngoài việc so sánh với các doanh nghiệp khác trên thị trường còn phải phân tích, nghiên cứu các tỷ suất hoạt động của doanh nghiệp cần định giá trong lịch sử để đàm bào các tỷ suất được dùng để so sánh phù hợp với điều kiện hiện tại của doanh nghiệp.  

2.2. Phương pháp chi phí

Phương pháp chi phí là phương pháp định giá doanh nghiệp trên cơ sở các chi phí bỏ ra để có được doanh nghiệp tương tự. Phương pháp này dựa trên quan điểm cho rằng nhà đầu tư sẽ không bò ra nhiều chi phi hơn để sáng lập một doanh nghiệp tương tự trong điều kiện thị trường mở. 

2.3. Phương pháp định giá theo giá trị tài sản

Nội dung:

Theo phương pháp này, giá trị của một công ty bằng tổng các giá trị của từng loại tài sản riêng biệt trừ đi các khoản nợ của công ty. Do đó, khi định giá phải tuân theo các quy tắc: 

– Định giá đầy đủ tất cả các tài sản của doanh nghiệp. 

– Giá trị tài sản và nguồn vốn được xác định dựa trên giá thị trường. 

– Ư ớ c tính các chi phí thanh lý. 

– Tính đến các khoản nợ thuế, thuế t h u nhập có thể có và các khoản thuế liên quan đến thu nhập từ tài sản thanh lý. 

– Đánh giá chất lượng các tài sản và khả năng bán ra thị trường. 

– Tính đến khoảng thời gian phải chờ cho đến khi có thể thu được hết các khoản tiền thanh lý. 

Ưu, nhược điểm:

– Đơn giản, dễ tính toán vì nó phản ánh tương đối đầy đủ và trực quan giá trị các tài sản hiện có của doanh nghiệp theo mức giá thị trường. 

– Tốn ít thời gian và chi phí. 

• Nhược điểm 

– Phương pháp này chi dựa trên giá trị tài sản hiện tại mà không tính tới hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp.

– Phương pháp này mới định giá doanh nghiệp ở trạng thái tĩnh tức là chỉ tính tại thời điểm hiện tại mà không tính khả năng sinh lời trong tương lai do doanh nghiệp vẫn đang tiếp tục hoạt động.

– Định giá doanh nghiệp theo phương pháp này chỉ tính tới tài sản hữu hình mà bỏ qua tài sản vô hình – một phần tài sản rất quan trọng của doanh nghiệp. 

– Phương pháp này xem xét giá trị tài sản một cách riêng rẽ chứ không xem xét đến mối quan hệ tương quan giữa chúng. 

Đối tượng áp dụng:

Khi thị trường chứng khoán chưa phát triển hoặc đang trong giai đoạn đầu phát triển ; khi thiếu thông tin lịch sử về của doanh nghiệp; khi việc thu thập thông tin để sử dụng các phương pháp định giá khác gặp khó khăn và không đủ tin cậy.

– Những doanh nghiệp có thu nhập và dòng tiền dự đoán là âm. Khi đó, giá trị doanh nghiệp chỉ đơn thuần là giá trị thanh lý của tài sản. 

– Những doanh nghiệp khó dự đoán tình hình sản xuất kinh doanh trong tương lai.